CUỘC ĐỜI ÁNH ĐẠO ĐỨC PHẬT TỔ THÍCH CA
Biên soạn: Khánh Vân – Nguyễn Thụy Hòa
NXB Tôn giáo, 2012
Chúng con xin kính đăng những trích dẫn, ghi chép của bản thân khi đọc tác phẩm:
1. Cõi Ta Bà đầy mê mờ dục vọng
2. Ánh dương chan hòa, muôn hoa đua nở, mây lành vương vấn khắp không trung… (hoàn cảnh khu rừng Đức Phật đản sanh), hào quang rực sáng muôn phương.
3. Nhân loại ơi, có hay chăng một vị Giác Ngộ mới ra đời! Chúng sanh ơi một Đấng Đại từ, Đại bi, Đại trí, Đại đức vừa mới xuất hiện xuống trần. Ôi! Hân hoan, hân hoan cho toàn cả mấy tầng trời, và chúng sanh ơi, một đóa hoa đàm vừa nở, một ánh sáng lạ chói ngời,… bừng lên để rồi giáo hóa chúng sanh.
4. Hình chữ vạn nổi lên giữa ngực Thái tử, báo hiệu rằng Ngài sẽ làm chủ cả tam giới, sẽ là một vị dẫn đường, chỉ lối cho hết thảy chúng sanh…
5. Tướng bạch hào: mỗi khi thuyết pháp sẽ phóng ra mà nhiếp hóa chúng sanh…
6. … là vị cha lành đối với tất cả chúng sanh
7. … mẫu hậu… lên vui thú trên cảnh tiên thanh nhàn không còn đau khổ.
8. Tài ba xuất chúng, nhún nhường, giàu tình cảm, lòng thương vạn loại rộng lớn bao la,
9. Những biểu dương vô lý chỉ là nguyên nhân của tranh nhân, chấp ngã, thù ghét, oán hờn.
10. Tranh chấp vì quyền lợi riêng tư, đắp bù cho sự sống!
11. Linh minh giác tánh về túc mạng tiền duyên/ tiền duyên túc trái…
12. … chính đứa con sanh ra là một gánh nặng đối với đạo Pháp sau này…
13. Nếu mình vẫn bị trói, hỏi rằng trói được cho ai?
14. Ta đi tìm đạo cứu đời, một cuộc ra đi vô cùng cao cả…
15. Mọi mối tình đều là trói buộc…
16. … Phi tưởng phi phi tưởng xứ: có cũng như không…
17. Lối tu khổ hạnh không những không làm tăng tiến tinh thần mà còn đôi khi khiến người ta chán nản, nếu quá ra, rất có thể chỉ là dâng hiến thân mục cho tử thần mà thôi.
18. “Thân thể có cường tráng, tinh thần mới sảng khoái. Quá sướng hay quá khổ đều không phải là lối tu chân chánh”
19. “Nếu ta ngồi đây mà không tìm ra đạo lý nhiệm màu, không tìm ra lẽ huyền vy của vũ trụ, vạn pháp. Dù rằng thịt nát, xương tan, ta quyết không rời bỏ chỗ ngồi này”
20. Hạt Bồ đề = tinh nguyệt Bồ đề…
21. Trong thâm tâm Bồ tát, tự nhiên phát hiện một luồng tư tưởng, chính những sự tham dục, hám danh, chuộng lợi là ma quỷ, phiền não làm dứt tuyệt tuệ mạng của con người, ngươi hãy xa ra ngươi hãy xa ra.
Và chỉ trong một thoáng, đám quỷ dần dần tan biến hết cả, thì tiếp theo đoàn quỷ giận dữ kéo tới, đôi mắt láo liên, miệng thì gầm thét, hai hàm răng nghiến lại trèo trẹo hết sức kinh hồn, chúng xúm lại thét lên, ta sẽ đốt đốt hết, không cho ai được ngồi dưới cây này. Nhưng trong tâm Bồ tát lúc ấy bình tĩnh như không, ngài ngước đôi mắt hiền từ nhìn chúng, cái nhìn của Bồ tát có một mãnh lực nhiệm màu khiến lũ quỷ giận dữ, hung tàn, thoáng thôi đều lảng xa như một làn mây bị cơn gió thoảng.
Tiếp theo những con ma nghi ngờ, cám dỗ, những sự nhớ nghĩ đến cảnh xa hoa, cảnh gần gũi gia đình, vợ con,… Tất cả những phiền não đều đến quấy rầy Ngài. Ngài quyết dùng trí tuệ sáng suốt để phá tan chúng: Thú tính tham dục, ngã mạn, sân hận, ngu si.
“Nếu những cám dỗ ấy là cứu cánh của lẽ sống, thì tại sao chúng sanh còn luân lưu trong nghiệp quả luân hồi? Phải xa hẳn dục vọng mới mong thấy ánh sáng nhiệm màu. Tất cả sắc tướng đều là huyễn hoặc, hư ảo,…”.
Cuối cùng là đám quỷ Ngạo mạn, chúng ngăn Bồ tát cứu vớt chúng sinh. Khi Bồ tát quyết tâm dũng mãnh cứu độ chúng sinh, quỷ Ngạo mạn cũng biến mất.
Tất cả quỷ ma: tham, sân, si, ngạo mạn, nghi ngờ, đủ thứ khủng khiếp đến phá, nhưng Bồ tát đều vượt qua, thành tựu đạo màu, tất thảy quỷ ma đều thất bại!
22. Thân thể ngọc ngà kia chẳng qua chỉ là những bóng hình giả dối.
23. Ngài đã tìm được lối hoa!
24. Lậu tận thông: Dứt hết tất cả những món trìu mến. Đoạn tuyệt 3 độc tham sân si. Không còn chấp trước. Không còn mong cầu. Không phân biệt chấp ngã, chấp tướng. Ngài đã đạt Chánh biến tri, Nhất thiết chủng trí.
25. Bồ tát biết rõ mọi sự đau khổ của chúng sanh. Sơ khởi là do dục vọng làm mù quáng, cũng ví như bụi bẩn làm mờ tấm gương, đó là Vô minh. Vì vô minh mà người ta có những hành vi tạo nên nghiệp báo. Thế là vô minh duyên Hành. Từ hành động, có sự phân biệt thế này thế khác, và phân tích để thấy rõ những sự phân biệt ấy, thế là Thức. Do sự phân biệt tác động để có ngoại cảnh, nội tâm, có hình có tướng, có sắc có màu, có xấu có tốt,v.v…, thì đó là Danh sắc. Do sự phân định về Danh sắc mà có sự ăn nhịp giữa căn và cảnh. Căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Và cảnh là sắc thanh hương vị xúc pháp. Sáu thứ nọ ăn nhập với sáu thứ kia, mà thành Lục nhập. Do sự phân định Lục nhập mà giác quan cọ xát để có cảm xúc. Vì cảm xúc mà luôn luôn chấp nhận và lãnh thọ. Do chỗ lãnh thọ phát sanh ưa thích và đó là Ái. Đã ưa thích thường phải giữ chặt lấy, thì đó là thủ. Giữ chặt lấy rồi, cho rằng thứ đó là của mình, bởi vậy mới có hữu. Cũng vì chấp hữu mà thành có nghiệp báo thế gian. Đã có nghiệp báo thế gian, tất nhiên có sanh, già, bệnh, chết. Đó là 12 giai đoạn nối tiếp nhau. Nhân này làm quả, quả này tiếp tục làm nhân để cho quả khác. Cứ thế luân chuyển. Bồ tát quyết đoạn tuyệt vô minh, và Ngài đã chứng ngôi Duyên giác….. Ngài tiếp tục đắc pháp thiền định. Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vượt qua cõi sắc giới, vô sắc, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ… Ngày rằm tháng 4, Ngài đã chứng ngũ thông, qua lúc sao Mai vừa mọc, Ngài chứng quả Lậu tận thông,… Ngài xuất định, tự hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật. – Bậc Tịch Tịnh hoàn toàn thuộc dòng họ Thích Ca.
26. Thuyết Tứ Diệu Đế:
+ Khổ: Sanh, già, bệnh, chết; Không ưa phải gần gũi; Yêu thương phải xa lìa; Tất cả mọi việc không như ý; Sự đeo bám dính mắc của sắc thân, thọ cảm, sự tưởng tượng, những hình ảnh, mọi hành động, đeo theo ngũ uẩn, đấy là khổ.
+ Nguồn gốc Khổ (Tập): Sự tập nhiễm, ham sống, ham dục, ham vui, ham sướng, ham quyền, ham thế, ham tài, ham đồ dùng vật dụng. Tất cả những sự tập nhiễm ham muốn ấy là sự kết tập các nghiệp để có lưu chuyển luân hồi.
+ Diệt Khổ (Trục bỏ sự tập nhiễm trên) : Phải giải được mọi nghiệp duyên ham muốn kết tập, tìm mọi cách trục bỏ sự tập nhiễm kia, nghĩa là diệt lửa si ái, sân hận, để thân tâm được tịch tĩnh, luôn luôn làm lành, coi sự kiện làm lành là một màu nhiệm, an ổn, tránh được mọi ô nhiễm.
+ Đạo (Con đường để xa rời Khổ đau): Đạo có 8 nhánh chính:
+1. Chánh kiến: Sự thấy biết ngay thẳng, một nhận thức chánh đáng đối với thuyết lý cũng như đối với mọi sự, mọi vật.
+2. Chánh tư duy: Tư duy không thiên lệch, thiên vị
+3. Chánh ngữ: Lời nói ngay lành, không nói ác, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói dối
+4. Chánh nghiệp: Làm nghề nghiệp chánh đáng, không bị lung lạc mà bị say đắm trong nghiệp ác
+5. Chánh mạng: Tạo lập cách sống trong sạch, thanh tịnh thân miệng ý, thuận theo Chánh pháp mà nuôi mạng sống.
+6. Chánh tinh tấn: Siêng năng, dũng mãnh, quyết thực thi sự kiện giải trừ phiền não, thâu phục đức lành bằng cách:
- Khi phiền não hay tội lỗi chưa phát động phải gắng gỏi mà lánh cho xa.
- Khi phiền não hay tội lỗi đã phát động rồi, phải gắng gỏi tìm cách dập tắt ngay, hoặc là tưởng tới sự thanh cao, hoặc là nghĩ đến điều đó thấp hèn, hoặc đừng quan tâm đến nữa, hoặc suy nghĩ kỹ càng rồi quyết dẹp đi, hoặc cắn răng mà đành chịu đựng hậu quả.
- Gắng gỏi luyện tập cho có nhiều đức tốt cho bản thân mình.
- Tinh tấn mà duy trì đức lành, khi đức ấy do mình tạo được.
+7. Chánh niệm: Luôn luôn niệm điều chơn chánh.
+8. Chánh định: An trụ trong thiền định chơn chánh. Đã chánh định thì sẽ thiểu dục (ít ham muốn), đã thiểu dục tất nhiên tri túc (biết đủ), đã tri túc thì thường tịch tịnh (vắng lặng), đã tịch tịnh mới mong tinh tấn trì giới, (gắng gỏi giữ mọi điều răn), rồi do giữ giới mà có được chánh niệm.
Đấy là căn bản đạo học do Đức Phật đã tìm ra!
Đức Phật đã độ 5 anh em ông Kiều Trần Như thoạt ngộ chân lý toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ!
27. Tâu Phụ vương, tấm thân đây chỉ là giả tạm, do đất nước gió lửa hiệp thành, ngày một ngày hai rồi sẽ tan rã, không ai tránh khỏi, còn chăng chỉ là một điểm linh minh giác tánh, nếu nhập Niết Bàn đó mới là cảnh Cực Lạc hiện tiền.
28. Tâu Phụ vương, tất cả những hành động thường ngày đều là những hành nghiệp hoặc thiện hoặc ác, đều chứa quả báo như bóng theo hình, không sao trốn khỏi, nếu biết vắng lặng thân tâm, tu theo pháp môn giải thoát, chứng được sự kiện, nhận thức được vạn sự vạn vật đều không, đó là đắc pháp “Không giải thoát”, lại gắng tiến tu, quán sát sự vật, biết rõ hình tướng vạn sự vạn vật chỉ là giả tạm, thì sẽ chứng được “Vô tướng giải thoát” và các pháp “Không giải thoát” và “Vô tướng giải thoát” kia, không giữ chặt lấy, xả đi hết cả, thế là chứng được “Vô nguyện giải thoát”, chính là tiến tới Niết Bàn!
29. Ngài (Đức vua cha) khuyến hóa mọi người chăm lo tu tập, bỏ hết các nghiệp tham, sân, si, mạn, nghi, hối, biết nghe lời nói phải, suy gẫm chín chắn rồi tinh tấn tu hành. Tu để đạt được những sự kiện tin tưởng chắc thật, hiểu biết rành mạch, thực hành nghiêm chỉnh đặng chứng đạo thật sự. Cả hoàng tộc và các quan nghe thời pháp ấy, ai nấy đều giác ngộ, sụp lạy xin quy y Phật!
30. Trên đời này, càng có những sự thù oán, mà người bị thâm thù không hề giận hờn, thì uy thế lại càng tăng trưởng.
31. Nữ nhân có 5 điều chướng chính yếu: không được làm trời Đại Phạm, Đế Thích, Ma vương, Chuyển Luân Thánh vương, không được làm Phật.
32. Bát kỉnh Pháp. (Cung kính, không mắng nhiếc, không nói những điều sai của tỳ kheo, theo Tăng chúng thụ đại giới, phạm giới phải thật tâm giãi bày xin sám hối, thường phải đến nơi các vị Tỳ kheo nghe thuyết pháp, xin an cư tại nơi có các vị Tỳ kheo làm chủ, Hạ xong phải theo Tăng mà làm lễ tự tứ).
33. Mọi lý thuyết thế gian đều hư vọng
34. Đức Thích Ca liền tưởng đến nỗi thương hại loài rồng hung hăng làm ác, khiến con rồng cảm phục thâm ân, gục đầu đảnh lễ quy y,… Đức Phật giảng cho ông Ca Diếp rõ biết Pháp môn hàng phục hỏa quang: Khi nào giữ tâm thanh tịnh thì không một thứ độc ác gì bên ngoài làm hại được.
35. Chương 30: Kẻ còn người mất đều được an vui dưới ánh đạo mầu. Rất hay!!!
+ Đạo hiếu!!!
+ Chư Tăng đi trước kim quan: ý nghĩa chỉ lối dẫn đường tu
+ Trong Đạo Phật, tấm thân tứ đại có thể mất, nhưng linh giác thì còn mãi mãi. Linh giác phải đi đâu, là do trong suốt đời đã làm những nghiệp thiện ác thế nào…
+ Khi đưa tang, khóc lóc sẽ làm xúc động Chơn như Phật tánh, làm sao có thể hộ niệm và tiếp dẫn được.
36. Hỡi những kẻ vì hoàn cảnh mà không thể xuất gia, các ngươi hãy luôn nhớ đến đạo của ta, phải dũng mãnh, tinh tấn, để thoát ra khỏi lưới dục vọng, thì đó đã là theo được đạo Ta và hy vọng rồi sẽ chứng đạo.
37. Các ngươi hãy theo giáo pháp của ta mà tìm sự giải thoát, đừng tìm ở nơi nào khác…. Tìm hiểu đến tột cùng những nghĩa lý sâu xa, màu nhiệm trong giáo pháp của ta để làm lợi lạc cho chúng sanh, luôn vượt qua những trở lực để mãi mãi ánh đạo vàng của Ta được truyền lưu đến vô cùng vô tận, nếu các ngươi để đạo giải thoát của Ta suy tàn, ấy là các ngươi đánh mất Ta, và các ngươi sẽ làm mất chính tự các ngươi; Nếu các ngươi trung thành với những lời dạy bảo của Ta từ trước tới nay ấy là các ngươi nhớ đến Ta, ấy là các ngươi tôn sùng Ta. Nếu các ngươi làm cho đạo từ bi của Ta mỗi ngày một hưng thịnh, ấy là các ngươi gần Ta và Ta sẽ luôn luôn ở bên cạnh các ngươi. .. Các ngươi đừng chạy theo dục vọng mà quên lời Ta dặn. Mọi vật ở trên đời không có gì quý báu. Chỉ có chơn lý của đạo là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi các đệ tử thân yêu của Ta.
38. Trong kinh Niết Bàn, Phật dạy: “Tháp miếu thờ ngọc Xá lợi của Ta là chỗ phước điền của chúng nhân thiên, nếu có chúng sanh nào biết gieo hạt giống tốt, có căn lành hoặc kính lễ, hoặc cúng dường thì công đức vô lượng, mà còn tránh khỏi những sự khổ não trong ba cõi”.
39. Hạnh phúc thay! Đức Phật đản sinh.
Hạnh phúc thay! Giáo pháp cao minh.
Hạnh phúc thay! Tăng già hòa hợp.
Hạnh phúc thay! Tứ chúng đồng tu!
