Bản kinh số 2 trong Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya) là Kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala Sutta). Đây là một trong những bài kinh quan trọng bậc nhất thuộc hệ thống Kinh Trường Bộ (Theravada.vn) nói riêng và Kinh tạng Pali nói chung
I. TỔM TẮT & NỘI DUNG KINH SA-MÔN QUẢ (SĀMAÑÑAPHALA SUTTA)
1. Bối cảnh (Context)
Vào một đêm rằm trăng tròn, vua A-xà-thế (Ajātasattu) nước Ma-kiệt-đà cảm thấy tâm hồn bất an sâu sắc sau tội lỗi giết cha (vua Tần-bà-sa-la) để cướp ngôi. Theo lời khuyên của ngự y Kỳ-bà (Jīvaka), nhà vua cùng tùy tùng đến rừng xoài của Kỳ-bà để diện kiến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và chúng tăng đang an trú trong sự im lặng thanh tịnh.
2. Câu hỏi của Vua A-xà-thế
Nhà vua bạch Phật rằng: Các ngành nghề trong xã hội (như người cưỡi voi, người đánh xe, thợ cắt tóc, người nấu ăn...) đều đem lại thành quả thực tế, nhãn tiền trong đời sống này cho bản thân và gia đình họ. Vậy "Lợi ích thiết thực, nhãn tiền của đời sống xuất gia (Sa-môn quả) là gì?". Trước đó, nhà vua đã hỏi 6 vị sư trưởng ngoại đạo nổi tiếng thời bấy giờ nhưng đều nhận được những câu trả lời mơ hồ, lạc đề.
3. Lời dạy của Đức Phật (The Buddha's Teaching)
Đức Phật đã tuần tự dẫn dắt vua A-xà-thế qua các cấp độ lợi ích của một vị Sa-môn từ thấp đến cao:
- Cấp độ sơ khởi (Thiết thực nhãn tiền): Một người nô lệ hoặc một người nông dân, nếu xuất gia tu hành, sẽ được xã hội kính trọng, ngay cả nhà vua cũng phải顶 lễ, cúng dường và bảo vệ, thoát khỏi ách nô dịch.
- Cấp độ đạo đức (Giới hạnh): Vị Sa-môn từ bỏ sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối; sống đời tri túc (chỉ với 3 y và 1 bình bát), hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác.
- Cấp độ tâm thức (Định học): Từ bỏ 5 triền cái (tham dục, sân nhuế, hôn trầm, trạo hối, nghi ngờ) và chứng đắc từ Sơ thiền đến Tứ thiền, nếm trải hỷ lạc của sự ly dục.
- Cấp độ trí tuệ (Tuệ học & Giải thoát): Phát triển Minh sát tuệ, chứng đắc các thần thông, Túc mạng minh (nhớ các đời trước), Sanh tử minh (biết sự tái sanh của chúng sanh) và cuối cùng là Lậu tận minh (diệt trừ tận gốc tham, sân, si), chứng đắc A-la-hán.
II. BÀI HỌC RÚT RA TRONG CUỘC SỐNG VÀ GIẢI THOÁT
1. Bài học rút ra trong cuộc sống (For Daily Life)
- Giá trị của sự tự chủ và kỷ luật: Sức mạnh thực sự không đến từ vũ khí hay vương quyền (như vua A-xà-thế), mà đến từ khả năng nhiếp phục chính mình.
- Năng lượng của sự tĩnh lặng: Vua A-xà-thế đã chấn động trước sự im lặng của hàng ngàn vị tỳ-kheo. Giữa cuộc sống hiện đại náo nhiệt, việc tìm về không gian yên tĩnh giúp chữa lành và định hình lại tâm thức.
- Luật nhân quả sòng phẳng: Dù là vua, quả báo của tội ác (giết cha) vẫn khiến A-xà-thế hoảng sợ, mất ngủ. Việc sám hối và quay đầu là con đường duy nhất để giảm bớt ác nghiệp.
2. BÀI HỌC DÀNH CHO TU SĨ (For Monastics)
- Đời sống tri túc (Simplicity): Tu sĩ chỉ cần giữ y bát như chim mang đôi cánh. Không tích lũy của cải vật chất để tâm trí hoàn toàn thảnh thơi.
- Nghiêm trì tịnh giới: Giới luật là nền tảng. Sa-môn không làm các nghề bói toán, xem tướng, can thiệp chính trị hoặc sống bám vào sự mê tín của cư sĩ.
- Mục tiêu tối hậu: Không dừng lại ở danh vọng, sự cúng dường hay các tầng thiền định, thần thông. Mục tiêu duy nhất của người xuất gia là đoạn tận lậu hoặc.
3. BÀI HỌC GIẢI THOÁT (For Liberation)
- Tiến trình Giới - Định - Tuệ: Con đường giải thoát là một lộ trình khoa học, thực tiễn, không thể đốt cháy giai đoạn. Giới trong sạch sinh Định, Định vững chắc sinh Tuệ, Tuệ sáng suốt đưa đến Giải thoát.
- Quả vị nhãn tiền: Giải thoát không phải là lời hứa sau khi chết, mà là sự tự do, vắng lặng phiền não ngay trong kiếp sống hiện tại.
III. 108 CÁCH RÈN LUYỆN THEO LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT
(Hệ thống hóa từ lộ trình Giới - Định - Tuệ trong Kinh Sa-môn Quả để ứng dụng thực hành)
Giới Hạnh Thân Nghiệp (1 - 25)
- Không sát hại, bảo vệ sự sống chúng sanh.
- Không lấy của không cho, tôn trọng tài sản người khác.
- Sống phạm hạnh, từ bỏ tà dâm và dục nhiễm.
- Không buôn bán, tàng trữ vũ khí.
- Không làm tổn hại các loại hạt và cây cối.
- Sống tri túc, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời.
- Không xem múa hát, âm nhạc, kịch nghệ giải trí thế tục.
- Không trang điểm, dùng dầu thơm, phấn sáp phấn son.
- Không nằm giường cao, nệm lớn, xa hoa.
- Không nhận vàng bạc, tiền tệ.
- Không nhận các loại gạo sống, ngũ cốc thô.
- Không nhận thịt sống.
- Không nhận phụ nữ, con gái làm người hầu.
- Không nhận nô tỳ nam nữ.
- Không nhận dê, cừu, gia súc.
- Không nhận gia cầm (gà, vịt).
- Không nhận ruộng đất, vườn tược.
- Không làm người đưa tin, chạy việc cho thế tục.
- Không mua bán, đổi chác thương mại.
- Không gian lận bằng cân, tiền giả, đo lường thiếu.
- Không hối lộ, lừa đảo, gạt gẫm.
- Không làm tổn thương, đả thương, trói buộc người khác.
- Không tham gia cướp bóc, bạo lực.
- Đi đứng nhẹ nhàng, oai nghi tế hạnh.
- Mặc y phục giản dị, sạch sẽ, không cầu kỳ.
Khẩu Nghiệp Tế Hạnh (26 - 50)
- Nói lời chân thật, không nói dối.
- Nói lời hòa hợp, không nói lời đâm thọc, chia rẽ.
- Nói lời nhã nhặn, không nói lời thô ác, chửi bới.
- Nói lời ích lợi, không nói lời phù phiếm, vô nghĩa.
- Nói đúng lúc, hợp thời, hợp cảnh.
- Không bàn luận chuyện triều chính, vua quan.
- Không bàn luận chuyện chiến tranh, quân đội.
- Không bàn luận chuyện ăn uống, ẩm thực thế gian.
- Không bàn luận chuyện quần áo, thời trang.
- Không bàn luận chuyện yêu đương, nam nữ.
- Không bàn luận chuyện phố phường, ngõ hẻm.
- Không bàn luận về người quá cố một cách vô bổ.
- Không tranh luận hơn thua: "Tôi biết pháp này, anh không biết".
- Không chỉ trích, hạ thấp quan điểm của người khác.
- Nói lời từ ái, đem lại niềm vui cho người nghe.
- Giữ im lặng thánh thiện khi không có việc cần thiết.
- Không dùng lời khen nịnh để trục lợi.
- Không nói lời mập mờ, nước đôi, lừa phỉnh.
- Không khoe khoang chứng đắc thiền định, thần thông.
- Luôn nói lời ca ngợi công đức của Tam Bảo.
- Khuyên người làm việc thiện bằng lời lẽ ôn hòa.
- Nhẫn nhục trước những lời lăng mạ, xúc phạm.
- Không tham gia vào các cuộc buôn chuyện, ngồi lê đôi mách.
- Diễn đạt giáo pháp rõ ràng, dễ hiểu.
- Luôn chân thành trong mọi lời đối thoại.
Hộ Trì Căn Môn & Ý Nghiệp (51 - 75)
- Mắt nhìn thấy sắc, không nắm giữ tướng chung.
- Mắt nhìn thấy sắc, không nắm giữ tướng riêng để tâm sân hận khởi lên.
- Tai nghe tiếng, không chạy theo âm thanh trầm bổng.
- Mũi ngửi hương, không đắm nhiễm mùi thơm.
- Lưỡi nếm vị, không tham đắm vị ngon.
- Thân xúc chạm, không tìm cầu cảm giác êm ái, khoái lạc.
- Ý căn đối với pháp, luôn tỉnh giác, không để tham ưu rỉ dột.
- Luôn chánh niệm khi đi tới, đi lui.
- Luôn chánh niệm khi nhìn thẳng, nhìn quanh.
- Luôn chánh niệm khi co tay, duỗi tay.
- Luôn chánh niệm khi mang y sanghati, ôm bát.
- Luôn chánh niệm khi ăn, uống, nhai, nếm.
- Luôn chánh niệm khi đại tiện, tiểu tiện.
- Luôn chánh niệm khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng.
- Từ bỏ tham dục ở đời, gột rửa tâm hết tham dục.
- Từ bỏ sân nhuế, sống với tâm từ mẫn thương xót chúng sanh.
- Từ bỏ hôn trầm thụy miên, tâm hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác.
- Từ bỏ trạo cử hối tiếc, tâm nội tĩnh vắng lặng.
- Từ bỏ hoài nghi, do dự đối với thiện pháp.
- Luôn biết ơn và đền ơn trong mọi hoàn cảnh.
- Ý thức rõ ràng về sự vô thường của vạn vật.
- Không nuôi dưỡng tâm đố kỵ, ganh ghét.
- Khởi tâm tùy hỷ với hạnh phúc, thành công của người khác.
- Nuôi dưỡng tâm xả, bình thản trước thuận cảnh và nghịch cảnh.
- Thường xuyên quán chiếu về cái chết để không phóng dật.
Định Học & Tuệ Học (76 - 108)
- Tìm đến trú xứ thanh vắng: rừng cây, gốc thiền, hang núi.
- Ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.
- Nhận diện rõ ràng hơi thở vào dài, thở ra dài.
- Nhận diện rõ ràng hơi thở vào ngắn, thở ra ngắn.
- Cảm giác toàn thân khi thở vào, thở ra.
- An tịnh thân hành khi thở vào, thở ra.
- Quán ly dục, ly ác pháp để chứng đắc Sơ thiền.
- Nuôi dưỡng tầm và tứ trong trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh.
- Làm lắng dịu tầm và tứ để chứng đắc Nhị thiền.
- Trải nghiệm định sanh hỷ lạc, tâm chuyên nhất.
- Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác để chứng đắc Tam thiền.
- Cảm nhận sự xả lạc chất ngất trong thân tâm.
- Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước để chứng đắc Tứ thiền.
- Trú vào định không khổ không lạc, thanh tịnh nhờ xả.
- Hướng tâm đến tri kiến, quán thân này do bốn đại tạo thành, tâm này nương gá vào thân.
- Hướng tâm hóa hiện một thân khác do ý tạo tư duy đầy đủ các chi tiết.
- Hướng tâm đến các loại thần thông (biến hóa, đi trên nước, đi xuyên tường).
- Hướng tâm đến Thiên nhĩ thông, nghe được tiếng chư Thiên và loài người.
- Hướng tâm đến Tha tâm thông, biết được tâm tư của chúng sanh khác.
- Hướng tâm đến Túc mạng thông, nhớ lại vô số đời sống quá khứ.
- Hướng tâm đến Thiên nhãn thông (Sanh tử minh), thấy chúng sanh chết đi tái sanh theo nghiệp.
- Hướng tâm đến Lậu tận thông, quán sát như thật: "Đây là Khổ".
- Quán sát như thật: "Đây là Khổ tập" (Nguyên nhân của khổ).
- Quán sát như thật: "Đây là Khổ diệt" (Sự chấm dứt khổ).
- Quán sát như thật: "Đây là Đạo diệt khổ" (Con đường đưa đến diệt khổ).
- Quán sát như thật: "Đây là những lậu hoặc".
- Quán sát như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc".
- Quán sát như thật: "Đây là sự diệt trừ lậu hoặc".
- Quán sát như thật: "Đây là con đường diệt trừ lậu hoặc".
- Nhận biết rõ ràng: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành".
- Nhận biết rõ ràng: "Những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
- Đoạn trừ hoàn toàn 10 kiết sử trói buộc.
- An trú hoàn toàn vào cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh nhãn tiền.
IV. 108 BÀI KỆ TỊNH HẠNH (THEO FORM PHẨM TỊNH HẠNH - KINH HOA NGHIÊM)
1. Thức dậy & Khởi đầu ngày mới
1.
Khi vừa thức giấc, nguyện cho chúng sanh, đều chứng trí tuệ, giác ngộ mười phương.
Waking up from sleep, may all sentient beings, attain supreme wisdom, and perceive all directions.
Khi vừa thức giấc, nguyện cho chúng sanh, đều chứng trí tuệ, giác ngộ mười phương.
Waking up from sleep, may all sentient beings, attain supreme wisdom, and perceive all directions.
2.
Khi bước xuống giường, nguyện cho chúng sanh, chân bước vững vàng, thoát khỏi sinh tử.
Stepping down from bed, may all sentient beings, walk with firm steps, and escape the cycle of birth and death.
Khi bước xuống giường, nguyện cho chúng sanh, chân bước vững vàng, thoát khỏi sinh tử.
Stepping down from bed, may all sentient beings, walk with firm steps, and escape the cycle of birth and death.
3.
Khi chân chạm đất, nguyện cho chúng sanh, tâm không lay chuyển, như đất đại địa.
Feet touching the ground, may all sentient beings, possess unshakeable minds, steadfast like the great earth.
Khi chân chạm đất, nguyện cho chúng sanh, tâm không lay chuyển, như đất đại địa.
Feet touching the ground, may all sentient beings, possess unshakeable minds, steadfast like the great earth.
4.
Khi mặc y phục, nguyện cho chúng sanh, đắp lòng tẻ nhị, che giấu lỗi lầm.
Putting on clothes, may all sentient beings, wear robes of modesty, and conceal all moral flaws.
Khi mặc y phục, nguyện cho chúng sanh, đắp lòng tẻ nhị, che giấu lỗi lầm.
Putting on clothes, may all sentient beings, wear robes of modesty, and conceal all moral flaws.
5.
Khi thắt dây lưng, nguyện cho chúng sanh, thúc liễm thân tâm, không rời thiện pháp.
Fastening the belt, may all sentient beings, restrain body and mind, never straying from wholesome states.
Khi thắt dây lưng, nguyện cho chúng sanh, thúc liễm thân tâm, không rời thiện pháp.
Fastening the belt, may all sentient beings, restrain body and mind, never straying from wholesome states.
6.
Khi ngắm nhìn thân, nguyện cho chúng sanh, thấy rõ vô thường, huyễn hóa không thật.
Looking at the body, may all sentient beings, realize impermanence, seeing it as an illusion.
Khi ngắm nhìn thân, nguyện cho chúng sanh, thấy rõ vô thường, huyễn hóa không thật.
Looking at the body, may all sentient beings, realize impermanence, seeing it as an illusion.
2. Vệ sinh buổi sáng
7.
Khi rửa mặt sạch, nguyện cho chúng sanh, rửa sạch bụi trần, tâm luôn thanh tịnh.
Washing the face, may all sentient beings, cleanse the dust of defilements, maintaining absolute purity.
Khi rửa mặt sạch, nguyện cho chúng sanh, rửa sạch bụi trần, tâm luôn thanh tịnh.
Washing the face, may all sentient beings, cleanse the dust of defilements, maintaining absolute purity.
8.
Khi súc miệng sạch, nguyện cho chúng sanh, lời nói thơm tho, tỏa hương chánh pháp.
Rinsing the mouth, may all sentient beings, speak pure words, diffusing the fragrance of the Dharma.
Khi súc miệng sạch, nguyện cho chúng sanh, lời nói thơm tho, tỏa hương chánh pháp.
Rinsing the mouth, may all sentient beings, speak pure words, diffusing the fragrance of the Dharma.
9.
Khi chải tóc đầu, nguyện cho chúng sanh, dứt trừ phiền não, rối rắm ngàn đời.
Combing the hair, may all sentient beings, untangle all afflictions, accumulated over countless lifetimes.
Khi chải tóc đầu, nguyện cho chúng sanh, dứt trừ phiền não, rối rắm ngàn đời.
Combing the hair, may all sentient beings, untangle all afflictions, accumulated over countless lifetimes.
10.
Khi dùng nước mát, nguyện cho chúng sanh, dập tắt lửa lòng, tham sân dịu dịu.
Using cool water, may all sentient beings, extinguish the inner fires, subduing greed and anger.
Khi dùng nước mát, nguyện cho chúng sanh, dập tắt lửa lòng, tham sân dịu dịu.
Using cool water, may all sentient beings, extinguish the inner fires, subduing greed and anger.
3. Ra khỏi phòng & Đi lại
11.
Khi mở cửa phòng, nguyện cho chúng sanh, mở cửa giải thoát, bước vào vô vi.
Opening the door, may all sentient beings, open the gate of liberation, entering the unconditioned.
Khi mở cửa phòng, nguyện cho chúng sanh, mở cửa giải thoát, bước vào vô vi.
Opening the door, may all sentient beings, open the gate of liberation, entering the unconditioned.
12.
Khi bước ra đường, nguyện cho chúng sanh, theo đường thánh đạo, lìa xa nẻo tà.
Walking onto the road, may all sentient beings, follow the Noble Path, leaving behind all devious ways.
Khi bước ra đường, nguyện cho chúng sanh, theo đường thánh đạo, lìa xa nẻo tà.
Walking onto the road, may all sentient beings, follow the Noble Path, leaving behind all devious ways.
13.
Khi đi hướng lên, nguyện cho chúng sanh, tâm luôn tinh tấn, hướng quả vô thượng.
Walking uphill, may all sentient beings, remain diligent in mind, ascending toward supreme fruition.
Khi đi hướng lên, nguyện cho chúng sanh, tâm luôn tinh tấn, hướng quả vô thượng.
Walking uphill, may all sentient beings, remain diligent in mind, ascending toward supreme fruition.
14.
Khi đi hướng xuống, nguyện cho chúng sanh, hạ mình khiêm nhường, độ khắp muôn loài.
Walking downhill, may all sentient beings, remain humble, saving all lower realms.
Khi đi hướng xuống, nguyện cho chúng sanh, hạ mình khiêm nhường, độ khắp muôn loài.
Walking downhill, may all sentient beings, remain humble, saving all lower realms.
15.
Khi đi đường thẳng, nguyện cho chúng sanh, tâm không quanh co, ngay thẳng chánh trực.
Walking on a straight path, may all sentient beings, keep their minds straightforward, free from crookedness.
Khi đi đường thẳng, nguyện cho chúng sanh, tâm không quanh co, ngay thẳng chánh trực.
Walking on a straight path, may all sentient beings, keep their minds straightforward, free from crookedness.
16.
Khi gặp khúc quanh, nguyện cho chúng sanh, khéo léo chuyển hóa, vượt mọi chướng duyên.
Encountering a curve, may all sentient beings, skillfully transform, overcoming all obstacles.
Khi gặp khúc quanh, nguyện cho chúng sanh, khéo léo chuyển hóa, vượt mọi chướng duyên.
Encountering a curve, may all sentient beings, skillfully transform, overcoming all obstacles.
17.
Khi thấy cây lớn, nguyện cho chúng sanh, bóng mát từ bi, che chở muôn loài.
Seeing a great tree, may all sentient beings, extend the shade of compassion, sheltering all living things.
Khi thấy cây lớn, nguyện cho chúng sanh, bóng mát từ bi, che chở muôn loài.
Seeing a great tree, may all sentient beings, extend the shade of compassion, sheltering all living things.
18.
Khi thấy ngọn núi, nguyện cho chúng sanh, công đức cao vời, không ai lay chuyển.
Seeing a mountain, may all sentient beings, pile up grand virtues, remaining immovable.
Khi thấy ngọn núi, nguyện cho chúng sanh, công đức cao vời, không ai lay chuyển.
Seeing a mountain, may all sentient beings, pile up grand virtues, remaining immovable.
19.
Khi thấy bụi bặm, nguyện cho chúng sanh, quán rõ trần lao, không để ô nhiễm.
Seeing dust, may all sentient beings, clearly perceive worldly dust, remaining unstained.
Khi thấy bụi bặm, nguyện cho chúng sanh, quán rõ trần lao, không để ô nhiễm.
Seeing dust, may all sentient beings, clearly perceive worldly dust, remaining unstained.
20.
Khi thấy dòng nước, nguyện cho chúng sanh, trí tuệ tuôn trào, nhuần thấm muôn phương.
Seeing a stream of water, may all sentient beings, flow with continuous wisdom, nourishing all directions.
Khi thấy dòng nước, nguyện cho chúng sanh, trí tuệ tuôn trào, nhuần thấm muôn phương.
Seeing a stream of water, may all sentient beings, flow with continuous wisdom, nourishing all directions.
4. Gặp gỡ chúng sanh & Cuộc sống
21.
Khi thấy người vui, nguyện cho chúng sanh, đồng lòng tùy hỷ, không khởi ganh ghét.
Seeing someone happy, may all sentient beings, rejoice sympathetically, never harboring jealousy.
Khi thấy người vui, nguyện cho chúng sanh, đồng lòng tùy hỷ, không khởi ganh ghét.
Seeing someone happy, may all sentient beings, rejoice sympathetically, never harboring jealousy.
22.
Khi thấy người buồn, nguyện cho chúng sanh, sanh lòng thương xót, cứu giúp khổ đau.
Seeing someone sad, may all sentient beings, arouse deep compassion, alleviating their suffering.
Khi thấy người buồn, nguyện cho chúng sanh, sanh lòng thương xót, cứu giúp khổ đau.
Seeing someone sad, may all sentient beings, arouse deep compassion, alleviating their suffering.
23.
Khi thấy người bệnh, nguyện cho chúng sanh, thân tâm lành lặn, dứt trừ nghiệp chướng.
Seeing a sick person, may all sentient beings, regain holistic health, destroying all karmic obstacles.
Khi thấy người bệnh, nguyện cho chúng sanh, thân tâm lành lặn, dứt trừ nghiệp chướng.
Seeing a sick person, may all sentient beings, regain holistic health, destroying all karmic obstacles.
24.
Khi gặp người trí, nguyện cho chúng sanh, gần gũi học hỏi, thấu suốt lý chân.
Meeting a wise person, may all sentient beings, stay close to learn, penetrating the ultimate truth.
Khi gặp người trí, nguyện cho chúng sanh, gần gũi học hỏi, thấu suốt lý chân.
Meeting a wise person, may all sentient beings, stay close to learn, penetrating the ultimate truth.
25.
Khi gặp người ngu, nguyện cho chúng sanh, không sanh khinh mạn, khởi tâm giáo hóa.
Meeting an ignorant person, may all sentient beings, avoid arrogance, arousing the mind to guide them.
Khi gặp người ngu, nguyện cho chúng sanh, không sanh khinh mạn, khởi tâm giáo hóa.
Meeting an ignorant person, may all sentient beings, avoid arrogance, arousing the mind to guide them.
26.
Khi thấy người giàu, nguyện cho chúng sanh, biết tu bố thí, phước đức vô biên.
Seeing a rich person, may all sentient beings, practice generosity, accumulating boundless merits.
Khi thấy người giàu, nguyện cho chúng sanh, biết tu bố thí, phước đức vô biên.
Seeing a rich person, may all sentient beings, practice generosity, accumulating boundless merits.
27.
Khi thấy người nghèo, nguyện cho chúng sanh, buông xả tham lam, tri túc an lạc.
Seeing a poor person, may all sentient beings, let go of greed, finding peace in contentment.
Khi thấy người nghèo, nguyện cho chúng sanh, buông xả tham lam, tri túc an lạc.
Seeing a poor person, may all sentient beings, let go of greed, finding peace in contentment.
28.
Khi gặp oán thù, nguyện cho chúng sanh, dùng tâm từ ái, hóa giải hận thù.
Encountering an enemy, may all sentient beings, use loving-kindness, dissolving all animosity.
Khi gặp oán thù, nguyện cho chúng sanh, dùng tâm từ ái, hóa giải hận thù.
Encountering an enemy, may all sentient beings, use loving-kindness, dissolving all animosity.
29.
Khi gặp người thân, nguyện cho chúng sanh, không sanh ái nhiễm, đồng hướng bồ đề.
Meeting loved ones, may all sentient beings, avoid emotional attachment, together walking toward Bodhi.
Khi gặp người thân, nguyện cho chúng sanh, không sanh ái nhiễm, đồng hướng bồ đề.
Meeting loved ones, may all sentient beings, avoid emotional attachment, together walking toward Bodhi.
30.
Khi nghe lời khen, nguyện cho chúng sanh, tâm không kiêu mạn, quán rõ như huyễn.
Hearing praise, may all sentient beings, remain free from pride, seeing praise as an illusion.
Khi nghe lời khen, nguyện cho chúng sanh, tâm không kiêu mạn, quán rõ như huyễn.
Hearing praise, may all sentient beings, remain free from pride, seeing praise as an illusion.
31.
Khi nghe lời chê, nguyện cho chúng sanh, nhẫn nhục chịu đựng, phản tỉnh sửa mình.
Hearing criticism, may all sentient beings, endure with patience, reflecting within to improve themselves.
Khi nghe lời chê, nguyện cho chúng sanh, nhẫn nhục chịu đựng, phản tỉnh sửa mình.
Hearing criticism, may all sentient beings, endure with patience, reflecting within to improve themselves.
32.
Khi thấy người già, nguyện cho chúng sanh, thấu hiểu vô thường, không màng danh lợi.
Seeing an elderly person, may all sentient beings, understand impermanence, detached from fame and wealth.
Khi thấy người già, nguyện cho chúng sanh, thấu hiểu vô thường, không màng danh lợi.
Seeing an elderly person, may all sentient beings, understand impermanence, detached from fame and wealth.
33.
Khi thấy trẻ nhỏ, nguyện cho chúng sanh, tâm hồn trong sáng, không nhiễm bụi trần.
Seeing a young child, may all sentient beings, possess pure minds, unstained by worldly dust.
Khi thấy trẻ nhỏ, nguyện cho chúng sanh, tâm hồn trong sáng, không nhiễm bụi trần.
Seeing a young child, may all sentient beings, possess pure minds, unstained by worldly dust.
34.
Khi thấy loài chim, nguyện cho chúng sanh, tự tại bay cao, thoát vòng lồng chậu.
Seeing birds, may all sentient beings, fly freely on high, escaping the cages of existence.
Khi thấy loài chim, nguyện cho chúng sanh, tự tại bay cao, thoát vòng lồng chậu.
Seeing birds, may all sentient beings, fly freely on high, escaping the cages of existence.
35.
Khi thấy thú vật, nguyện cho chúng sanh, thoát nạn súc sanh, sớm sanh cõi lành.
Seeing animals, may all sentient beings, be liberated from animal realms, soon reborn in good paths.
Khi thấy thú vật, nguyện cho chúng sanh, thoát nạn súc sanh, sớm sanh cõi lành.
Seeing animals, may all sentient beings, be liberated from animal realms, soon reborn in good paths.
5. Thọ dụng thực phẩm
36.
Khi nâng bát lên, nguyện cho chúng sanh, tay nâng chánh pháp, tiếp nhận vạn duyên.
Lifting the bowl, may all sentient beings, hold high the True Dharma, accepting all causes and conditions.
Khi nâng bát lên, nguyện cho chúng sanh, tay nâng chánh pháp, tiếp nhận vạn duyên.
Lifting the bowl, may all sentient beings, hold high the True Dharma, accepting all causes and conditions.
37.
Khi nhìn thức ăn, nguyện cho chúng sanh, quán như thuốc báu, nuôi dưỡng sắc thân.
Looking at food, may all sentient beings, regard it as sacred medicine, merely to sustain the physical body.
Khi nhìn thức ăn, nguyện cho chúng sanh, quán như thuốc báu, nuôi dưỡng sắc thân.
Looking at food, may all sentient beings, regard it as sacred medicine, merely to sustain the physical body.
38.
Khi ăn miếng một, nguyện cho chúng sanh, dứt trừ điều ác, tích lũy điều lành.
Taking the first bite, may all sentient beings, abandon all evil, and cultivate all goodness.
Khi ăn miếng một, nguyện cho chúng sanh, dứt trừ điều ác, tích lũy điều lành.
Taking the first bite, may all sentient beings, abandon all evil, and cultivate all goodness.
39.
Khi ăn miếng hai, nguyện cho chúng sanh, tinh tấn tu hành, đền ơn thí chủ.
Taking the second bite, may all sentient beings, practice diligently, repaying the kindness of donors.
Khi ăn miếng hai, nguyện cho chúng sanh, tinh tấn tu hành, đền ơn thí chủ.
Taking the second bite, may all sentient beings, practice diligently, repaying the kindness of donors.
40.
Khi ăn miếng ba, nguyện cho chúng sanh, độ thoát muôn loài, đồng thành Phật đạo.
Taking the third bite, may all sentient beings, deliver all living things, attaining Buddhahood together.
Khi ăn miếng ba, nguyện cho chúng sanh, độ thoát muôn loài, đồng thành Phật đạo.
Taking the third bite, may all sentient beings, deliver all living things, attaining Buddhahood together.
41.
Khi uống nước vào, nguyện cho chúng sanh, cam lộ pháp vị, tưới tẩm tâm tư.
Drinking water, may all sentient beings, receive the nectar of Dharma, moistening their hearts.
Khi uống nước vào, nguyện cho chúng sanh, cam lộ pháp vị, tưới tẩm tâm tư.
Drinking water, may all sentient beings, receive the nectar of Dharma, moistening their hearts.
42.
Khi thọ thực xong, nguyện cho chúng sanh, thân tâm no đủ, vạn sự cát tường.
Finishing the meal, may all sentient beings, be fulfilled in body and mind, experiencing auspiciousness.
Khi thọ thực xong, nguyện cho chúng sanh, thân tâm no đủ, vạn sự cát tường.
Finishing the meal, may all sentient beings, be fulfilled in body and mind, experiencing auspiciousness.
6. Tu tập Thiền định
43.
Khi bước vào thiền, nguyện cho chúng sanh, định tâm vắng lặng, không dính sáu trần.
Entering meditation, may all sentient beings, still their minds in tranquility, detached from the six senses.
Khi bước vào thiền, nguyện cho chúng sanh, định tâm vắng lặng, không dính sáu trần.
Entering meditation, may all sentient beings, still their minds in tranquility, detached from the six senses.
44.
Khi ngồi kiết già, nguyện cho chúng sanh, thiện căn vững chắc, bất động kiên trì.
Sitting cross-legged, may all sentient beings, establish firm wholesome roots, remaining immovably persistent.
Khi ngồi kiết già, nguyện cho chúng sanh, thiện căn vững chắc, bất động kiên trì.
Sitting cross-legged, may all sentient beings, establish firm wholesome roots, remaining immovably persistent.
45.
Khi thở vào trong, nguyện cho chúng sanh, tiếp thu năng lượng, chánh niệm tràn trề.
Breathing in, may all sentient beings, absorb positive energy, overflowing with mindfulness.
Khi thở vào trong, nguyện cho chúng sanh, tiếp thu năng lượng, chánh niệm tràn trề.
Breathing in, may all sentient beings, absorb positive energy, overflowing with mindfulness.
46.
Khi thở ra ngoài, nguyện cho chúng sanh, buông xả phiền não, độc tố tiêu tan.
Breathing out, may all sentient beings, let go of all afflictions, dissipating all inner toxins.
Khi thở ra ngoài, nguyện cho chúng sanh, buông xả phiền não, độc tố tiêu tan.
Breathing out, may all sentient beings, let go of all afflictions, dissipating all inner toxins.
47.
Khi tâm tán loạn, nguyện cho chúng sanh, nhiếp phục vọng tưởng, quay về chân tâm.
When the mind wanders, may all sentient beings, subdue all stray thoughts, returning to the True Mind.
Khi tâm tán loạn, nguyện cho chúng sanh, nhiếp phục vọng tưởng, quay về chân tâm.
When the mind wanders, may all sentient beings, subdue all stray thoughts, returning to the True Mind.
48.
Khi tâm định tĩnh, nguyện cho chúng sanh, tỏa ánh quang minh, soi đường dẫn lối.
When the mind is still, may all sentient beings, emit the light of wisdom, illuminating the path for others.
Khi tâm định tĩnh, nguyện cho chúng sanh, tỏa ánh quang minh, soi đường dẫn lối.
When the mind is still, may all sentient beings, emit the light of wisdom, illuminating the path for others.
49.
Khi quán vô thường, nguyện cho chúng sanh, không màng bám chấp, buông xả thảnh thơi.
Contemplating impermanence, may all sentient beings, cease all clinging, letting go to find absolute ease.
Khi quán vô thường, nguyện cho chúng sanh, không màng bám chấp, buông xả thảnh thơi.
Contemplating impermanence, may all sentient beings, cease all clinging, letting go to find absolute ease.
50.
Khi quán vô ngã, nguyện cho chúng sanh, dứt trừ cái ta, hòa nhập đại thể.
Contemplating non-self, may all sentient beings, eradicate the ego, merging into the great oneness.
Khi quán vô ngã, nguyện cho chúng sanh, dứt trừ cái ta, hòa nhập đại thể.
Contemplating non-self, may all sentient beings, eradicate the ego, merging into the great oneness.
7. Các hành động sinh hoạt hằng ngày
51.
Khi đi tắm rửa, nguyện cho chúng sanh, gột rửa cấu bẩn, hiện bày pháp thân.
Taking a bath, may all sentient beings, wash away structural impurities, revealing the Dharmakaya.
Khi đi tắm rửa, nguyện cho chúng sanh, gột rửa cấu bẩn, hiện bày pháp thân.
Taking a bath, may all sentient beings, wash away structural impurities, revealing the Dharmakaya.
52.
Khi đại tiểu tiện, nguyện cho chúng sanh, xả bỏ độc hại, tham sân si cấu.
Eliminating waste, may all sentient beings, cast off all toxicity, along with greed, anger, and delusion.
Khi đại tiểu tiện, nguyện cho chúng sanh, xả bỏ độc hại, tham sân si cấu.
Eliminating waste, may all sentient beings, cast off all toxicity, along with greed, anger, and delusion.
53.
Khi dọn rác bẩn, nguyện cho chúng sanh, quét sạch tâm uế, trang nghiêm tự tánh.
Cleaning up trash, may all sentient beings, sweep away mental defilements, adorning their intrinsic nature.
Khi dọn rác bẩn, nguyện cho chúng sanh, quét sạch tâm uế, trang nghiêm tự tánh.
Cleaning up trash, may all sentient beings, sweep away mental defilements, adorning their intrinsic nature.
54.
Khi nhóm ngọn lửa, nguyện cho chúng sanh, thắp sáng đuốc tuệ, thiêu rụi vô minh.
Lighting a fire, may all sentient beings, ignite the torch of wisdom, burning away primeval ignorance.
Khi nhóm ngọn lửa, nguyện cho chúng sanh, thắp sáng đuốc tuệ, thiêu rụi vô minh.
Lighting a fire, may all sentient beings, ignite the torch of wisdom, burning away primeval ignorance.
55.
Khi tắt ngọn đèn, nguyện cho chúng sanh, nhập vào tịch diệt, mát mẻ an lành.
Extinguishing a lamp, may all sentient beings, enter total cessation, experiencing cool peace.
Khi tắt ngọn đèn, nguyện cho chúng sanh, nhập vào tịch diệt, mát mẻ an lành.
Extinguishing a lamp, may all sentient beings, enter total cessation, experiencing cool peace.
56.
Khi mở cuốn kinh, nguyện cho chúng sanh, thấu suốt lời Phật, mở rộng tầm nhìn.
Opening a sutra, may all sentient beings, penetrate the Buddha's words, broadening their vision.
Khi mở cuốn kinh, nguyện cho chúng sanh, thấu suốt lời Phật, mở rộng tầm nhìn.
Opening a sutra, may all sentient beings, penetrate the Buddha's words, broadening their vision.
57.
Khi gấp kinh lại, nguyện cho chúng sanh, ghi nhớ sâu sắc, ứng dụng thực hành.
Closing a sutra, may all sentient beings, remember it deeply, and apply it in practice.
Khi gấp kinh lại, nguyện cho chúng sanh, ghi nhớ sâu sắc, ứng dụng thực hành.
Closing a sutra, may all sentient beings, remember it deeply, and apply it in practice.
58.
Khi viết chữ kinh, nguyện cho chúng sanh, lưu truyền chánh pháp, lợi lạc nhân thiên.
Writing sacred texts, may all sentient beings, propagate the True Dharma, benefiting humans and gods.
Khi viết chữ kinh, nguyện cho chúng sanh, lưu truyền chánh pháp, lợi lạc nhân thiên.
Writing sacred texts, may all sentient beings, propagate the True Dharma, benefiting humans and gods.
59.
Khi ngước nhìn trời, nguyện cho chúng sanh, tâm lượng bao la, rộng lớn khôn cùng.
Looking up at the sky, may all sentient beings, develop a boundless mind, infinitely vast.
Khi ngước nhìn trời, nguyện cho chúng sanh, tâm lượng bao la, rộng lớn khôn cùng.
Looking up at the sky, may all sentient beings, develop a boundless mind, infinitely vast.
60.
Khi nhìn mặt đất, nguyện cho chúng sanh, chở che nuôi dưỡng, muôn vật không từ.
Looking down at the earth, may all sentient beings, protect and nourish, all things without discrimination.
Khi nhìn mặt đất, nguyện cho chúng sanh, chở che nuôi dưỡng, muôn vật không từ.
Looking down at the earth, may all sentient beings, protect and nourish, all things without discrimination.
61.
Khi thấy hoa nở, nguyện cho chúng sanh, tướng hảo quang nghiêm, ai thấy cũng vui.
Seeing flowers bloom, may all sentient beings, possess majestic appearances, bringing joy to all onlookers.
Khi thấy hoa nở, nguyện cho chúng sanh, tướng hảo quang nghiêm, ai thấy cũng vui.
Seeing flowers bloom, may all sentient beings, possess majestic appearances, bringing joy to all onlookers.
62.
Khi thấy hoa rụng, nguyện cho chúng sanh, biết rõ phai tàn, không sanh tiếc nuối.
Seeing flowers wither, may all sentient beings, recognize decay, avoiding useless regrets.
Khi thấy hoa rụng, nguyện cho chúng sanh, biết rõ phai tàn, không sanh tiếc nuối.
Seeing flowers wither, may all sentient beings, recognize decay, avoiding useless regrets.
63.
Khi thấy ánh mặt trời, nguyện cho chúng sanh, xua tan bóng tối, chiếu sáng muôn nơi.
Seeing the sunlight, may all sentient beings, dispel all darkness, shining brightly everywhere.
Khi thấy ánh mặt trời, nguyện cho chúng sanh, xua tan bóng tối, chiếu sáng muôn nơi.
Seeing the sunlight, may all sentient beings, dispel all darkness, shining brightly everywhere.
64.
Khi thấy ánh trăng, nguyện cho chúng sanh, dịu mát tâm hồn, thanh lương tự tại.
Seeing the moonlight, may all sentient beings, soothe their souls, attaining cool liberation.
Khi thấy ánh trăng, nguyện cho chúng sanh, dịu mát tâm hồn, thanh lương tự tại.
Seeing the moonlight, may all sentient beings, soothe their souls, attaining cool liberation.
65.
Khi nghe tiếng chuông, nguyện cho chúng sanh, tỉnh giấc mê lầm, quay về bến giác.
Hearing the bell, may all sentient beings, awaken from illusions, returning to the shore of enlightenment.
Khi nghe tiếng chuông, nguyện cho chúng sanh, tỉnh giấc mê lầm, quay về bến giác.
Hearing the bell, may all sentient beings, awaken from illusions, returning to the shore of enlightenment.
66.
Khi dâng hương cúng, nguyện cho chúng sanh, giới hương xông ngát, thấu thấu mười phương.
Offering incense, may all sentient beings, diffuse the fragrance of precepts, permeating the ten directions.
Khi dâng hương cúng, nguyện cho chúng sanh, giới hương xông ngát, thấu thấu mười phương.
Offering incense, may all sentient beings, diffuse the fragrance of precepts, permeating the ten directions.
67.
Khi lạy Phật đài, nguyện cho chúng sanh, ngã mạn tiêu trừ, cúi đầu kính lạy.
Bowing to the Buddha, may all sentient beings, eradicate arrogance, bowing in deep reverence.
Khi lạy Phật đài, nguyện cho chúng sanh, ngã mạn tiêu trừ, cúi đầu kính lạy.
Bowing to the Buddha, may all sentient beings, eradicate arrogance, bowing in deep reverence.
68.
Khi nhiễu quanh tháp, nguyện cho chúng sanh, hướng về trung tâm, không rời chánh đạo.
Circumambulating a stupa, may all sentient beings, turn toward the center, never straying from the path.
Khi nhiễu quanh tháp, nguyện cho chúng sanh, hướng về trung tâm, không rời chánh đạo.
Circumambulating a stupa, may all sentient beings, turn toward the center, never straying from the path.
69.
Khi thấy đền tháp, nguyện cho chúng sanh, tôn kính bậc thánh, gieo giống bồ đề.
Seeing a shrine, may all sentient beings, revere the holy ones, sowing the seeds of Bodhi.
Khi thấy đền tháp, nguyện cho chúng sanh, tôn kính bậc thánh, gieo giống bồ đề.
Seeing a shrine, may all sentient beings, revere the holy ones, sowing the seeds of Bodhi.
70.
Khi mặc áo tràng, nguyện cho chúng sanh, khoác áo nhẫn nhục, chịu đựng gió sương.
Putting on the formal robe, may all sentient beings, wear the armor of patience, enduring all hardships.
Khi mặc áo tràng, nguyện cho chúng sanh, khoác áo nhẫn nhục, chịu đựng gió sương.
Putting on the formal robe, may all sentient beings, wear the armor of patience, enduring all hardships.
71.
Khi cởi y phục, nguyện cho chúng sanh, thoát ly ràng buộc, tự tại vô vi.
Taking off clothes, may all sentient beings, untie all bonds, achieving unconditioned freedom.
Khi cởi y phục, nguyện cho chúng sanh, thoát ly ràng buộc, tự tại vô vi.
Taking off clothes, may all sentient beings, untie all bonds, achieving unconditioned freedom.
72.
Khi cầm cây chổi, nguyện cho chúng sanh, quét sạch bụi lòng, tâm môn sáng tỏ.
Holding a broom, may all sentient beings, sweep away heart-dust, clearing the gateway of the mind.
Khi cầm cây chổi, nguyện cho chúng sanh, quét sạch bụi lòng, tâm môn sáng tỏ.
Holding a broom, may all sentient beings, sweep away heart-dust, clearing the gateway of the mind.
73.
Khi area tay sạch, nguyện cho chúng sanh, tay lành làm thiện, không gieo oán thù.
Washing hands clean, may all sentient beings, use clean hands for good, sowing no enmity.
Khi area tay sạch, nguyện cho chúng sanh, tay lành làm thiện, không gieo oán thù.
Washing hands clean, may all sentient beings, use clean hands for good, sowing no enmity.
74.
Khi nghe tiếng sấm, nguyện cho chúng sanh, chấn động mê mờ, đại ngộ chân lý.
Hearing thunder, may all sentient beings, shake off confusion, greatly awakening to the truth.
Khi nghe tiếng sấm, nguyện cho chúng sanh, chấn động mê mờ, đại ngộ chân lý.
Hearing thunder, may all sentient beings, shake off confusion, greatly awakening to the truth.
75.
Khi mưa tuôn đổ, nguyện cho chúng sanh, pháp mưa gội nhuần, phiền não tiêu tan.
When it rains, may all sentient beings, be saturated by the Dharma rain, dissolving all afflictions.
Khi mưa tuôn đổ, nguyện cho chúng sanh, pháp mưa gội nhuần, phiền não tiêu tan.
When it rains, may all sentient beings, be saturated by the Dharma rain, dissolving all afflictions.
76.
Khi gặp gió thổi, nguyện cho chúng sanh, thổi bay định kiến, thông thoáng tư duy.
Encountering the wind, may all sentient beings, blow away biases, maintaining an open mind.
Khi gặp gió thổi, nguyện cho chúng sanh, thổi bay định kiến, thông thoáng tư duy.
Encountering the wind, may all sentient beings, blow away biases, maintaining an open mind.
77.
Khi cảm thấy nóng, nguyện cho chúng sanh, tìm về rừng thiền, mát mẻ thanh lương.
Feeling hot, may all sentient beings, return to the meditation forest, seeking cool refuge.
Khi cảm thấy nóng, nguyện cho chúng sanh, tìm về rừng thiền, mát mẻ thanh lương.
Feeling hot, may all sentient beings, return to the meditation forest, seeking cool refuge.
78.
Khi cảm thấy lạnh, nguyện cho chúng sanh, sưởi ấm bằng pháp, tâm từ bao la.
Feeling cold, may all sentient beings, warm themselves with the Dharma, and boundless compassion.
Khi cảm thấy lạnh, nguyện cho chúng sanh, sưởi ấm bằng pháp, tâm từ bao la.
Feeling cold, may all sentient beings, warm themselves with the Dharma, and boundless compassion.
79.
Khi lên xe cộ, nguyện cho chúng sanh, an toàn vạn dặm, tiến tới bờ kia.
Boarding a vehicle, may all sentient beings, travel safely for miles, advancing toward the other shore.
Khi lên xe cộ, nguyện cho chúng sanh, an toàn vạn dặm, tiến tới bờ kia.
Boarding a vehicle, may all sentient beings, travel safely for miles, advancing toward the other shore.
80.
Khi xuống xe cộ, nguyện cho chúng sanh, chân đạp vững vàng, không rời hiện tại.
Alighting from a vehicle, may all sentient beings, step down firmly, rooted in the present moment.
Khi xuống xe cộ, nguyện cho chúng sanh, chân đạp vững vàng, không rời hiện tại.
Alighting from a vehicle, may all sentient beings, step down firmly, rooted in the present moment.
81.
Khi nhìn dòng người, nguyện cho chúng sanh, nhận rõ duyên sinh, không sanh ái ố.
Looking at a crowd, may all sentient beings, perceive dependent origination, free from love and hate.
Khi nhìn dòng người, nguyện cho chúng sanh, nhận rõ duyên sinh, không sanh ái ố.
Looking at a crowd, may all sentient beings, perceive dependent origination, free from love and hate.
82.
Khi ở một mình, nguyện cho chúng sanh, làm bạn chính mình, tịnh tâm quán chiếu.
Being alone, may all sentient beings, befriend themselves, contemplating in pure stillness.
Khi ở một mình, nguyện cho chúng sanh, làm bạn chính mình, tịnh tâm quán chiếu.
Being alone, may all sentient beings, befriend themselves, contemplating in pure stillness.
83.
Khi dâng nước cúng, nguyện cho chúng sanh, tâm sạch như nước, không một gợn sóng.
Offering water, may all sentient beings, keep their minds pure as water, without a single ripple.
Khi dâng nước cúng, nguyện cho chúng sanh, tâm sạch như nước, không một gợn sóng.
Offering water, may all sentient beings, keep their minds pure as water, without a single ripple.
84.
Khi thắp ngọn nến, nguyện cho chúng sanh, tự đốt đuốc lên, nương tựa chính mình.
Lighting a candle, may all sentient beings, be islands unto themselves, relying only on the self.
Khi thắp ngọn nến, nguyện cho chúng sanh, tự đốt đuốc lên, nương tựa chính mình.
Lighting a candle, may all sentient beings, be islands unto themselves, relying only on the self.
85.
Khi nghe tiếng khóc, nguyện cho chúng sanh, thấu nỗi nhân gian, phát tâm cứu độ.
Hearing someone cry, may all sentient beings, understand human suffering, vowing to save all.
Khi nghe tiếng khóc, nguyện cho chúng sanh, thấu nỗi nhân gian, phát tâm cứu độ.
Hearing someone cry, may all sentient beings, understand human suffering, vowing to save all.
86.
Khi nghe tiếng cười, nguyện cho chúng sanh, niềm vui thanh tịnh, không nhiễm dục lạc.
Hearing laughter, may all sentient beings, experience pure joy, unstained by sensual pleasures.
Khi nghe tiếng cười, nguyện cho chúng sanh, niềm vui thanh tịnh, không nhiễm dục lạc.
Hearing laughter, may all sentient beings, experience pure joy, unstained by sensual pleasures.
87.
Khi thấy người ác, nguyện cho chúng sanh, không sanh oán hận, khởi lòng thương xót.
Seeing an evil person, may all sentient beings, avoid hatred, arousing merciful compassion.
Khi thấy người ác, nguyện cho chúng sanh, không sanh oán hận, khởi lòng thương xót.
Seeing an evil person, may all sentient beings, avoid hatred, arousing merciful compassion.
88.
Khi thấy người thiện, nguyện cho chúng sanh, học theo hạnh lành, tinh tấn không ngừng.
Seeing a wholesome person, may all sentient beings, emulate their good deeds, practicing ceaselessly.
Khi thấy người thiện, nguyện cho chúng sanh, học theo hạnh lành, tinh tấn không ngừng.
Seeing a wholesome person, may all sentient beings, emulate their good deeds, practicing ceaselessly.
89.
Khi qua cây cầu, nguyện cho chúng sanh, làm chiếc cầu phao, độ người vượt khổ.
Crossing a bridge, may all sentient beings, become a pontoon bridge, ferrying others over suffering.
Khi qua cây cầu, nguyện cho chúng sanh, làm chiếc cầu phao, độ người vượt khổ.
Crossing a bridge, may all sentient beings, become a pontoon bridge, ferrying others over suffering.
90.
Khi nhìn giếng nước, nguyện cho chúng sanh, nguồn pháp vô tận, không bao giờ vơi.
Looking into a well, may all sentient beings, possess an endless Dharma source, that never runs dry.
Khi nhìn giếng nước, nguyện cho chúng sanh, nguồn pháp vô tận, không bao giờ vơi.
Looking into a well, may all sentient beings, possess an endless Dharma source, that never runs dry.
91.
Khi thấy chợ búa, nguyện cho chúng sanh, lìa xa tranh giành, buôn bán pháp bảo.
Seeing a marketplace, may all sentient beings, step away from disputes, trading only in Dharma treasures.
Khi thấy chợ búa, nguyện cho chúng sanh, lìa xa tranh giành, buôn bán pháp bảo.
Seeing a marketplace, may all sentient beings, step away from disputes, trading only in Dharma treasures.
92.
Khi nhìn cỏ xanh, nguyện cho chúng sanh, sức sống bền bỉ, xanh tươi đạo hạnh.
Looking at green grass, may all sentient beings, possess resilient vitality, flourishing in virtue.
Khi nhìn cỏ xanh, nguyện cho chúng sanh, sức sống bền bỉ, xanh tươi đạo hạnh.
Looking at green grass, may all sentient beings, possess resilient vitality, flourishing in virtue.
93.
Khi nhìn lá rụng, nguyện cho chúng sanh, nhẹ nhàng buông xả, quay về cát bụi.
Looking at falling leaves, may all sentient beings, gently let go, peacefully returning to the dust.
Khi nhìn lá rụng, nguyện cho chúng sanh, nhẹ nhàng buông xả, quay về cát bụi.
Looking at falling leaves, may all sentient beings, gently let go, peacefully returning to the dust.
94.
Khi nghe chim hót, nguyện cho chúng sanh, nghe tiếng hải triều, ngộ lý vô sanh.
Hearing birds sing, may all sentient beings, hear the cosmic tide, awakening to the unborn.
Khi nghe chim hót, nguyện cho chúng sanh, nghe tiếng hải triều, ngộ lý vô sanh.
Hearing birds sing, may all sentient beings, hear the cosmic tide, awakening to the unborn.
95.
Khi thấy lúa chín, nguyện cho chúng sanh, cúi đầu khiêm tốn, thành tựu đạo quả.
Seeing ripe rice, may all sentient beings, bow with humility, accomplishing the spiritual harvest.
Khi thấy lúa chín, nguyện cho chúng sanh, cúi đầu khiêm tốn, thành tựu đạo quả.
Seeing ripe rice, may all sentient beings, bow with humility, accomplishing the spiritual harvest.
96.
Khi uống trà ấm, nguyện cho chúng sanh, thưởng thức tỉnh thức, nếm vị thiền duyệt.
Drinking warm tea, may all sentient beings, savor direct alertness, tasting the joy of Chan.
Khi uống trà ấm, nguyện cho chúng sanh, thưởng thức tỉnh thức, nếm vị thiền duyệt.
Drinking warm tea, may all sentient beings, savor direct alertness, tasting the joy of Chan.
97.
Khi nhìn gương soi, nguyện cho chúng sanh, thấy rõ chân tướng, không lầm bóng hình.
Looking in a mirror, may all sentient beings, clearly see their true face, unfooled by reflections.
Khi nhìn gương soi, nguyện cho chúng sanh, thấy rõ chân tướng, không lầm bóng hình.
Looking in a mirror, may all sentient beings, clearly see their true face, unfooled by reflections.
98.
Khi nghe ca nhạc, nguyện cho chúng sanh, hướng về phạn âm, thanh tịnh tâm hồn.
Hearing music, may all sentient beings, turn toward celestial sounds, purifying their souls.
Khi nghe ca nhạc, nguyện cho chúng sanh, hướng về phạn âm, thanh tịnh tâm hồn.
Hearing music, may all sentient beings, turn toward celestial sounds, purifying their souls.
99.
Khi thấy bóng tối, nguyện cho chúng sanh, nương ánh từ quang, vượt qua u minh.
Seeing darkness, may all sentient beings, rely on the inner light, passing through the underworld.
Khi thấy bóng tối, nguyện cho chúng sanh, nương ánh từ quang, vượt qua u minh.
Seeing darkness, may all sentient beings, rely on the inner light, passing through the underworld.
100.
Khi đóng cửa sổ, nguyện cho chúng sanh, đóng các căn môn, ngăn ngừa giặc cướp.
Closing a window, may all sentient beings, shut their sense faculties, guarding against internal thieves.
Khi đóng cửa sổ, nguyện cho chúng sanh, đóng các căn môn, ngăn ngừa giặc cướp.
Closing a window, may all sentient beings, shut their sense faculties, guarding against internal thieves.
101.
Khi mở cửa sổ, nguyện cho chúng sanh, đón gió từ bi, mát mẻ muôn loài.
Opening a window, may all sentient beings, welcome the wind of mercy, cooling all living things.
Khi mở cửa sổ, nguyện cho chúng sanh, đón gió từ bi, mát mẻ muôn loài.
Opening a window, may all sentient beings, welcome the wind of mercy, cooling all living things.
102.
Khi nhìn mây bay, nguyện cho chúng sanh, tự tại thong dong, không tâm bám chấp.
Watching drifting clouds, may all sentient beings, remain free and easy, without a clinging mind.
Khi nhìn mây bay, nguyện cho chúng sanh, tự tại thong dong, không tâm bám chấp.
Watching drifting clouds, may all sentient beings, remain free and easy, without a clinging mind.
8. Cuối ngày & Đi ngủ
103.
Khi màn đêm buông, nguyện cho chúng sanh, lắng dịu muộn phiền, an trú tịch tĩnh.
As night falls, may all sentient beings, soothe all worries, abiding in perfect stillness.
Khi màn đêm buông, nguyện cho chúng sanh, lắng dịu muộn phiền, an trú tịch tĩnh.
As night falls, may all sentient beings, soothe all worries, abiding in perfect stillness.
104.
Khi rửa chân tối, nguyện cho chúng sanh, rửa sạch trần lao, thân tâm nhẹ nhõm.
Washing feet at night, may all sentient beings, wash away worldly fatigue, feeling light in body and mind.
Khi rửa chân tối, nguyện cho chúng sanh, rửa sạch trần lao, thân tâm nhẹ nhõm.
Washing feet at night, may all sentient beings, wash away worldly fatigue, feeling light in body and mind.
105.
Khi bước lên giường, nguyện cho chúng sanh, lìa xa mộng huyễn, bước vào định sâu.
Stepping into bed, may all sentient beings, leave behind deceptive dreams, entering deep absorption.
Khi bước lên giường, nguyện cho chúng sanh, lìa xa mộng huyễn, bước vào định sâu.
Stepping into bed, may all sentient beings, leave behind deceptive dreams, entering deep absorption.
106.
Khi nằm nghiêng phải, nguyện cho chúng sanh, như sư tử chúa, chánh niệm tỉnh giác.
Lying on the right side, may all sentient beings, emulate the lion king, maintaining clear mindfulness.
Khi nằm nghiêng phải, nguyện cho chúng sanh, như sư tử chúa, chánh niệm tỉnh giác.
Lying on the right side, may all sentient beings, emulate the lion king, maintaining clear mindfulness.
107.
Khi nhắm mắt lại, nguyện cho chúng sanh, thu nhiếp hào quang, an giấc cát tường.
Closing the eyes, may all sentient beings, withdraw their inner light, enjoying auspicious sleep.
Khi nhắm mắt lại, nguyện cho chúng sanh, thu nhiếp hào quang, an giấc cát tường.
Closing the eyes, may all sentient beings, withdraw their inner light, enjoying auspicious sleep.
108.
Khi chìm vào giấc, nguyện cho chúng sanh, chứng nhập Niết-bàn, vắng lặng tuyệt đối.
Falling asleep, may all sentient beings, realize final Nirvana, in absolute peace and silence.
Khi chìm vào giấc, nguyện cho chúng sanh, chứng nhập Niết-bàn, vắng lặng tuyệt đối.
Falling asleep, may all sentient beings, realize final Nirvana, in absolute peace and silence.
