Logo Footer

Làm gì khi 6 căn gặp 6 trần?

Tác giảHẠC TUỆ

CHÚNG SINH ĐAU KHỔ VÌ CHẤP NGÃ, TƯỞNG RẰNG CÓ CÁI TÔI THỰC SỰ. KHI 6 CĂN GẶP 6 TRẦN, KHỞI TÂM THÍCH GHÉT, KHÔNG THÍCH KHÔNG GHÉT, CHÍNH VÌ TÂM PHÂN BIỆT ĐÓ, LÀ CỘI NGUỒN ĐAU KHỔ.

ĐỂ THOÁT KHỔ, ĐỂ VÔ NGÃ, CÓ RẤT NHIỀU PHƯƠNG PHÁP ĐỂ CHẶN ĐỨNG DÒNG CHẢY TÂM THỨC, (TỪ ĐOẠN PHÂN BIỆT, TRỞ THÀNH THỨC, RỒI HÀNH THEO VÔ MINH CHỈ DẪN, KẾT CỤC LÀ KHỔ ĐAU)

 

  1. Chuyển đài tâm, tập trung vào hơi thở; chỉ nhìn và không phản ứng, là người quan sát, không đồng hóa sự vật sự việc với mình; không so sánh; không phân biệt; quán không; niệm chú Lục tự đại minh chân ngôn; niệm Phật; niệm điều đẹp đẽ; chuyển đài tâm theo phẩm Tịnh hạnh của kinh Hoa nghiêm; niệm 4 câu Tôi yêu bạn, tôi tha thứ cho bạn, tôi xin lỗi bạn, bạn tha thứ cho tôi, tôi yêu bạn;....
    Đây là cơ hội duy nhất - để ngăn trừ nghiệp! Do vậy, chặn luân hồi!
  2. Học tập, học tập, học tập! Để hiểu mình hiểu người. Để thông cảm cho tất cả. Để thông tuệ tất cả. Trong nghịch cảnh soi Nhân quả. Trong thuận cảnh soi Vô thường. Tu tập đến một mức độ nhất định, hành giả có khả năng thấu suốt quá khứ tương lai. Thấy rõ rồi, thì chẳng còn thích hay ghét, chỉ còn là chấp nhận thực tại, sống trọn vẹn với thực tại, chẳng còn tâm thắc mắc, không có tâm kháng cự, không còn tâm tìm kiếm, chỉ Bình thường tâm thị đạo, chỉ có chuyên tâm sống theo Chánh đạo mà thôi!

 

Bản chất của tu tập chính là phản tỉnh và thực hành thiện pháp ngay trong hiện tại.
Trạng thái tâm Biểu hiện khi 6 căn gặp 6 trần Hệ quả luân hồi Phương pháp chuyển hóa tương ứng
Tâm mê muội (Vô minh) Khởi tâm thích/ghét, đồng hóa mình với hoàn cảnh, so sánh, phân biệt. Tạo nghiệp, trói buộc, cuốn theo dòng sinh tử đau khổ. Luôn soi Nhân quả trong nghịch cảnh và soi Vô thường trong thuận cảnh.
Tâm tỉnh thức (Vô ngã) Chỉ nhìn và không phản ứng, làm người quan sát, chấp nhận thực tại. Ngăn trừ nghiệp, chặn luân hồi, sống trọn vẹn với thực tại.

Tập trung hơi thở, quán không, niệm Phật/Chú, hành theo phẩm Tịnh Hạnh.

 

 

 

 

 

·                     Gặp cảnh → Đứng ở vị trí Khách quan (Nguyên thủy).

·                     Nhìn rõ vạn sự là Mộng huyễn, Tánh Không (Kim Cương).

·                     Khởi tâm Nguyện cho chúng sanh đều an lạc (Tịnh Hạnh).

·                     Duy trì năng lượng phòng hộ liên tục bằng câu chú Om Mani Padme Hum.

 

 

1.            Bạn dùng Thiền Nguyên thủy để đứng ở vị trí khách quan, canh giữ sáu cửa (sáu căn).

2.            Khi có bóng dáng của dính mắc, bạn dùng Triết học Tánh Không của Kinh Kim Cương để soi rọi, thấy đối tượng đó là "Mộng huyễn", không có tự tính \(\rightarrow \) Tâm tự động buông xả.

3.            Khi tâm đã buông xả, rộng rang, bạn dùng Phẩm Tịnh Hạnh để khởi lên những thiện nguyện bao la cho cuộc đời.

 

 Bài kệ tỉnh thức:

Sáu căn chạm trần, giữ lặng im, (Nguyên thủy)
Mộng huyễn Tánh Không, chẳng kiếm tìm. (Kim Cương)
Tịnh Hạnh rải lòng thương vạn loại, (Tịnh Hạnh)
Mani ngân tiếng, sáng ngời tim. (Om Mani Padme Hum)

 

 Về lục tự đại minh chân ngôn:

1. Cơ chế bẻ gãy 6 nẻo luân hồi ngay tại 6 Căn

Mỗi âm tiết trong sáu chữ đại diện cho năng lượng tịnh hóa một trạng thái tâm lý tiêu cực (phiền não) cấu thành nên sáu cõi luân hồi. Khi bạn trì tụng chú này tại cửa ngõ sáu căn, bạn đang đóng lại sáu nẻo luân hồi:

·                     OM (Úm): Tịnh hóa tâm kiêu mạn và ích kỷ (Cõi Trời). Khi mắt, tai, mũi chạm trần gian mà khởi tâm tự cao, tiếng OM quét sạch nó.

·                     MA (Ma): Tịnh hóa tâm đố kỵ, ganh đua và hiếu chiến (Cõi A-tu-la).

·                     NI (Ni): Tịnh hóa tâm tham ái, dục vọng và dính mắc (Cõi Người). Đây là cốt lõi của việc phòng hộ ý căn.

·                     PAD (Bát): Tịnh hóa tâm si mê, tăm tối, định kiến và bám chấp (Cõi Súc sinh) — ứng dụng trực tiếp triết học Tánh Không để phá trừ vô minh.

·                     ME (Mê): Tịnh hóa tâm bỏ xẻn, tham lam, thèm khát vô độ (Cõi Ngạ quỷ).

·                     HUM (Hồng): Tịnh hóa tâm sân hận, oán thù, hung bạo (Cõi Địa ngục).

Khi sáu âm thanh này vang lên, sáu căn của bạn lập tức có một màng bảo vệ. Tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ vừa nhen nhóm ở cửa ngõ liền bị năng lượng của chú tịnh hóa ngay lập tức.

2. Ý nghĩa Tánh Không và Tịnh Hạnh trong cấu trúc "Mani Padme"

Bản thân nghĩa đen của câu thần chú đã chứa đựng sự song hành giữa Kinh Kim CươngPhẩm Tịnh Hạnh:

·                     MANI nghĩa là Viên ngọc báu: Đại diện cho lòng Từ bi vô lượng, cho tâm Bồ Đề luôn hướng về chúng sanh (như tinh thần Phẩm Tịnh Hạnh).

·                     PADME nghĩa là Trong hoa sen: Hoa sen mọc từ bùn nhơ nhưng không hôi tanh mùi bùn, đại diện cho Trí tuệ thấu suốt Tánh Không (như tinh thần Kinh Kim Cương). Cho dù sống giữa trần gian biến động, tâm vẫn rỗng rang, không dính mắc.

Khi bạn trì chú, bạn đang tự nhắc nhở mình: "Ta giữ tâm thuần khiết như hoa sen (Tánh Không), để sinh khởi viên ngọc báu từ bi (Tịnh Hạnh) cứu giúp chúng sanh." [1]

0 / 5 (0Bình chọn)
Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận