TRƯỜNG CA: TẤT CẢ LẬU HOẶC ĐOẠN TRỪ
(Kính tác theo tinh thần Kinh Trung Bộ số 2)
1. Do Tri Kiến Được Đoạn Trừ
Lậu hoặc tiêu trừ, bởi biết, thấy,
U mê, mù quáng, khổ đong đầy.
Xoay vần quá khứ, hoài nghi hiện,
Vấn vương tự ngã, trói buộc thay!
U mê, mù quáng, khổ đong đầy.
Xoay vần quá khứ, hoài nghi hiện,
Vấn vương tự ngã, trói buộc thay!
"Ta có là ai? Ta từ đâu?"
Hỏi mãi ngàn năm, chuốc u sầu.
Rơi vào lưới kiến, rừng biên kiến,
Trôi dạt luân hồi, chốn thẳm sâu.
Hỏi mãi ngàn năm, chuốc u sầu.
Rơi vào lưới kiến, rừng biên kiến,
Trôi dạt luân hồi, chốn thẳm sâu.
Kịp tỉnh nhìn xem: Bản ngã không,
Năm uẩn duyên sinh, chớ bận lòng.
Như lý tác ý, thường soi chiếu,
Khổ, Tập, Diệt, Đạo, tỏ hư không.
Năm uẩn duyên sinh, chớ bận lòng.
Như lý tác ý, thường soi chiếu,
Khổ, Tập, Diệt, Đạo, tỏ hư không.
Nghi ngờ buông xuống, dạ kiên trung,
Thân kiến tan theo khói mịt mùng.
Giới cấm sai đường, nay từ bỏ,
Tuệ nhãn bừng khai, bước thong dong.
Thân kiến tan theo khói mịt mùng.
Giới cấm sai đường, nay từ bỏ,
Tuệ nhãn bừng khai, bước thong dong.
2. Do Phòng Hộ Được Đoạn Trừ
Cửa thiền sáu lối phải canh phòng,
Mắt thấy sắc trần, giữ lặng trong.
Chẳng đắm nét duyên, không khởi ghét,
Hỷ nộ buông rơi, sạch cõi lòng.
Mắt thấy sắc trần, giữ lặng trong.
Chẳng đắm nét duyên, không khởi ghét,
Hỷ nộ buông rơi, sạch cõi lòng.
Tai nghe tiếng thế, thoảng gió bay,
Mũi ngửi hương nồng, dạ chẳng lay.
Lưỡi nếm vị ngon, đừng dính mắc,
Thân xúc mịn màng, phủi nhẹ tay.
Mũi ngửi hương nồng, dạ chẳng lay.
Lưỡi nếm vị ngon, đừng dính mắc,
Thân xúc mịn màng, phủi nhẹ tay.
Ý căn hành giả, khéo chăn dắt,
Vọng tưởng vừa nhen, lập tức tắt.
Nếu để buông lung theo pháp trần,
Lậu hoặc thiêu liền trong nháy mắt.
Vọng tưởng vừa nhen, lập tức tắt.
Nếu để buông lung theo pháp trần,
Lậu hoặc thiêu liền trong nháy mắt.
Như người phòng thủ một tòa thành,
Cẩn mật canh nghiêm, chớ lãng lanh.
Giặc ngoài không cửa nương đường bước,
Tâm cảnh an bình, tuệ giác sanh.
Cẩn mật canh nghiêm, chớ lãng lanh.
Giặc ngoài không cửa nương đường bước,
Tâm cảnh an bình, tuệ giác sanh.
3. Do Thọ Dụng Được Đoạn Trừ
Mỗi độ đắp y, ngẫm nghĩ suy,
Chỉ để che thân, tránh hiểm nguy.
Ruồi muỗi, gió sương, lòng chẳng bận,
Kín đáo hành trì, giữ oai nghi.
Chỉ để che thân, tránh hiểm nguy.
Ruồi muỗi, gió sương, lòng chẳng bận,
Kín đáo hành trì, giữ oai nghi.
Mỗi khi thọ thực, ngụm cơm thiền,
Chẳng vì béo bổ, bớt cuồng điên.
Như thoa dầu mỡ vào bánh xe,
Nuôi thân hành đạo, dứt ưu phiền.
Chẳng vì béo bổ, bớt cuồng điên.
Như thoa dầu mỡ vào bánh xe,
Nuôi thân hành đạo, dứt ưu phiền.
Nằm ngồi giường ghế, chốn liêu phòng,
Tránh nốt nóng lạnh, định tâm trong.
Chẳng màng hoa lệ, không lười nhác,
Nương tạm qua ngày, sạch tánh không.
Tránh nốt nóng lạnh, định tâm trong.
Chẳng màng hoa lệ, không lười nhác,
Nương tạm qua ngày, sạch tánh không.
Thuốc thang trị bệnh, lúc thân đau,
Ngăn khổ thọ sinh, bớt nghẹn ngào.
Không cầu sống thọ để hưởng lạc,
Chỉ mong phạm hạnh được thanh cao.
Ngăn khổ thọ sinh, bớt nghẹn ngào.
Không cầu sống thọ để hưởng lạc,
Chỉ mong phạm hạnh được thanh cao.
4. Do Nhẫn Nhục Được Đoạn Trừ
Gió sương nóng lạnh, trải ngày qua,
Đói khát muỗi mòng, chẳng phiền hà.
Thân dẫu phong trần, tâm vững chãi,
Xem như huyễn hóa, nhẹ lòng ta.
Đói khát muỗi mòng, chẳng phiền hà.
Thân dẫu phong trần, tâm vững chãi,
Xem như huyễn hóa, nhẹ lòng ta.
Lời thô tiếng ác, tựa gió bay,
Mắng nhiếc, chê bai, dạ chẳng lay.
Không oán, không hờn, không đối chọi,
Tình thương trải khắp, nhẫn từ đây.
Mắng nhiếc, chê bai, dạ chẳng lay.
Không oán, không hờn, không đối chọi,
Tình thương trải khắp, nhẫn từ đây.
Bệnh tật hoành hành, nhức nhối xương,
Khổ thọ dập dồn, lắm tai ương.
Chân cứng đá mềm, thầm quán chiếu,
Cơn đau đến, đi... vốn vô thường.
Khổ thọ dập dồn, lắm tai ương.
Chân cứng đá mềm, thầm quán chiếu,
Cơn đau đến, đi... vốn vô thường.
Nhẫn nhục làm giáp, khoác trên vai,
Vượt mọi gai chông, nẻo đường dài.
Lậu hoặc tàn hại, không chỗ bám,
Tâm vàng thử lửa, rạng ban mai.
Vượt mọi gai chông, nẻo đường dài.
Lậu hoặc tàn hại, không chỗ bám,
Tâm vàng thử lửa, rạng ban mai.
5. Do Tránh Né Được Đoạn Trừ
Đường tu đâu phải cậy hùng anh,
Gặp hiểm biết lui, giữ đạo lành.
Voi dữ, ngựa cuồng, xà độc lối,
Lặng lẽ lánh mình, chớ đua tranh.
Gặp hiểm biết lui, giữ đạo lành.
Voi dữ, ngựa cuồng, xà độc lối,
Lặng lẽ lánh mình, chớ đua tranh.
Vực thẳm, bờ gai, hố nước sâu,
Né bước chân qua, đỡ chuốc sầu.
Giữ thân an ổn, nuôi mạng sống,
Để làm thuyền mộc, vượt sông sâu.
Né bước chân qua, đỡ chuốc sầu.
Giữ thân an ổn, nuôi mạng sống,
Để làm thuyền mộc, vượt sông sâu.
Chỗ ngồi bất tịnh, chớ lân la,
Làng xóm không nghiêm, lánh gót qua.
Bạn ác, duyên phàm, năng dứt bỏ,
Kẻo mầm lậu hoặc, nẩy chồi ra.
Làng xóm không nghiêm, lánh gót qua.
Bạn ác, duyên phàm, năng dứt bỏ,
Kẻo mầm lậu hoặc, nẩy chồi ra.
Tránh né không vì lòng nhát gan,
Mà bởi nhìn thông, dạ rõ ràng.
Bảo bọc mầm bồ đề mới nhú,
Chờ ngày vững chãi, phóng hào quang.
Mà bởi nhìn thông, dạ rõ ràng.
Bảo bọc mầm bồ đề mới nhú,
Chờ ngày vững chãi, phóng hào quang.
6. Do Trừ Diệt Được Đoạn Trừ
Gốc rễ phiền não khởi từ tâm,
Dục niệm nhen lên giữa tối tăm.
Sân hận vừa nhen, lòng chực cháy,
Hại người, hại vật, họa âm thầm.
Dục niệm nhen lên giữa tối tăm.
Sân hận vừa nhen, lòng chực cháy,
Hại người, hại vật, họa âm thầm.
Hành giả tinh chuyên mắt tựa đài,
Nhìn vào ý niệm buổi ban mai.
Tà tư vừa chớm, không dung thứ,
Tống khứ, xua đi, quyết chẳng sai.
Nhìn vào ý niệm buổi ban mai.
Tà tư vừa chớm, không dung thứ,
Tống khứ, xua đi, quyết chẳng sai.
Chớ để mầm hoang mọc bén rễ,
Diệt tận, xua tan chẳng trễ nề.
Quét sạch rác nền, phơi nắng chánh,
Đập tan lậu hoặc, dứt lầm mê.
Diệt tận, xua tan chẳng trễ nề.
Quét sạch rác nền, phơi nắng chánh,
Đập tan lậu hoặc, dứt lầm mê.
Như lửa gặp mưa, tắt lụi ngay,
Như mây gặp gió, tản ngàn mây.
Nội tâm tịch tĩnh, không tì vết,
Trừ diệt kiên trì, tuệ thắm thay.
Như mây gặp gió, tản ngàn mây.
Nội tâm tịch tĩnh, không tì vết,
Trừ diệt kiên trì, tuệ thắm thay.
7. Do Tu Tập Được Đoạn Trừ
Con đường tối hậu bước chân lên,
Thất Chi Giác Ngộ dựng móng bền.
Chánh Niệm hằng soi, luôn tỉnh thức,
Trạch Pháp nhìn thông, giả thực tên.
Thất Chi Giác Ngộ dựng móng bền.
Chánh Niệm hằng soi, luôn tỉnh thức,
Trạch Pháp nhìn thông, giả thực tên.
Tinh Tấn ngày đêm, chẳng lãng lơi,
Lòng Hỷ trào dâng, mát cuộc đời.
Thân tâm Khinh An, xua mệt mỏi,
Vào Định ngàn năm, bóng nguyệt soi.
Lòng Hỷ trào dâng, mát cuộc đời.
Thân tâm Khinh An, xua mệt mỏi,
Vào Định ngàn năm, bóng nguyệt soi.
Xả tâm buông hết, chẳng mưu cầu,
Nương vào viễn ly, dứt bể sầu.
Ly tham, đoạn diệt, không vương vấn,
Từ bỏ trần gian, vượt hố sâu.
Nương vào viễn ly, dứt bể sầu.
Ly tham, đoạn diệt, không vương vấn,
Từ bỏ trần gian, vượt hố sâu.
Bảy đóa hoa thiền, nở ngát hương,
Xua tan tăm tối, vạn dặm đường.
Lậu hoặc từ đây, không sinh khởi,
Tuệ giác bừng lên, rạng mười phương.
Xua tan tăm tối, vạn dặm đường.
Lậu hoặc từ đây, không sinh khởi,
Tuệ giác bừng lên, rạng mười phương.
Tu tập viên thành, chứng vô sanh,
Thuyền qua bến giác, đỗ an lành.
Đất trời thanh tịnh, tâm tự tại,
Khép lại ngàn năm, nẻo tử sanh.
Thuyền qua bến giác, đỗ an lành.
Đất trời thanh tịnh, tâm tự tại,
Khép lại ngàn năm, nẻo tử sanh.
==
Thọ dụng
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbāsava Sutta), phần "Do thọ dụng được đoạn trừ" (paṭisevanā pahātabbā) dạy chúng ta cách tỉnh giác khi sử dụng bốn món vật dụng hằng ngày (y phục, vật thực, sàng tọa, y dược).
Mục đích của việc thọ dụng không phải để hưởng thụ, làm đẹp hay kiêu mạn, mà chỉ để duy trì thân mạng, ngăn ngừa khổ thọ, và hỗ trợ cho việc tu hành phạm hạnh.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu được đúc kết từ tinh thần cốt lõi của phần kinh này:
🌟 Bài Kệ: Thọ Dụng Tỉnh Giác
Mỗi độ đắp y, ngẫm nghĩ suy,
Chỉ để che thân, tránh hiểm nguy.
Ruồi muỗi, gió sương, lòng chẳng bận,
Kín đáo hành trì, giữ oai nghi.
Chỉ để che thân, tránh hiểm nguy.
Ruồi muỗi, gió sương, lòng chẳng bận,
Kín đáo hành trì, giữ oai nghi.
Mỗi khi thọ thực, ngụm cơm thiền,
Chẳng vì béo bổ, bớt cuồng điên.
Như thoa dầu mỡ vào bánh xe,
Nuôi thân hành đạo, dứt ưu phiền.
Chẳng vì béo bổ, bớt cuồng điên.
Như thoa dầu mỡ vào bánh xe,
Nuôi thân hành đạo, dứt ưu phiền.
Nằm ngồi giường ghế, chốn liêu phòng,
Tránh nốt nóng lạnh, định tâm trong.
Chẳng màng hoa lệ, không lười nhác,
Nương tạm qua ngày, sạch tánh không.
Tránh nốt nóng lạnh, định tâm trong.
Chẳng màng hoa lệ, không lười nhác,
Nương tạm qua ngày, sạch tánh không.
Thuốc thang trị bệnh, lúc thân đau,
Ngăn khổ thọ sinh, bớt nghẹn ngào.
Không cầu sống thọ để hưởng lạc,
Chỉ mong phạm hạnh được thanh cao.
Ngăn khổ thọ sinh, bớt nghẹn ngào.
Không cầu sống thọ để hưởng lạc,
Chỉ mong phạm hạnh được thanh cao.
Bốn món duy trì, dạ sắc son,
Thọ dụng tinh chuyên, lậu hoặc mòn.
Tỉnh giác trong từng điều nhỏ nhặt,
Đường về giải thoát, bước vuông tròn.
Thọ dụng tinh chuyên, lậu hoặc mòn.
Tỉnh giác trong từng điều nhỏ nhặt,
Đường về giải thoát, bước vuông tròn.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ:
- Y phục (Áo quần): Chỉ để che thân, che thẹn và bảo vệ cơ thể khỏi thời tiết, côn trùng.
- Vật thực (Ăn uống): Ăn như người đi qua sa mạc ăn thịt đứa con (quán tưởng), như xức dầu vào trục xe để xe chạy. Không ăn để chơi đùa, đam mê, hay để có làn da đẹp.
- Sàng tọa (Chỗ ở, giường ghế): Chỉ để trú ẩn, tránh thời tiết khắc nghiệt để dễ dàng độc cư thiền định.
- Y dược (Thuốc men): Chỉ để chữa bệnh, diệt trừ các cảm giác đau đớn, giữ sức khỏe tối thiểu để tu tập.
Khi thọ dụng trong sự chánh niệm như vậy, các lậu hoặc (phiền não ái dục, chấp thủ) gắn liền với sự thèm khát vật chất sẽ không có cơ hội sinh khởi, và những lậu hoặc đã có sẽ bị đoạn trừ.
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, phần "Do tri kiến được đoạn trừ" (dassanā pahātabbā) là phần mở đầu và là nền tảng cốt lõi nhất. Đức Phật dạy rằng lậu hoặc đoạn trừ là dành cho người biết và thấy (có tri kiến), chứ không dành cho người không biết, không thấy.
Cốt lõi của phần này là đoạn trừ các tri kiến sai lầm bằng cách: Không suy nghĩ không chơn chánh về quá khứ/hiện tại/tương lai (Ví dụ: "Ta có mặt trong quá khứ không?", "Ta là ai?"), đoạn trừ 6 loại ác kiến liên quan đến "Cái Ta" (Ngã kiến), và thay vào đó là như lý tác ý về Tứ Thánh Đế (Đau khổ, Nguyên nhân, Diệt khổ, Con đường). Nhờ vậy, ba kiết sử đầu tiên (Thân kiến, Nghi, Giới cấm thủ) được đoạn trừ.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu đúc kết từ tinh thần "Do tri kiến được đoạn trừ":
🌟 Bài Kệ: Minh Kiến Đoạn Trừ
Lậu hoặc tiêu trừ, bởi biết, thấy,
U mê, mù quáng, khổ đong đầy.
Xoay vần quá khứ, hoài nghi hiện,
Vấn vương tự ngã, trói buộc thay!
U mê, mù quáng, khổ đong đầy.
Xoay vần quá khứ, hoài nghi hiện,
Vấn vương tự ngã, trói buộc thay!
"Ta có là ai? Ta từ đâu?"
Hỏi mãi ngàn năm, chuốc u sầu.
Rơi vào lưới kiến, rừng biên kiến,
Trôi dạt luân hồi, chốn thẳm sâu.
Hỏi mãi ngàn năm, chuốc u sầu.
Rơi vào lưới kiến, rừng biên kiến,
Trôi dạt luân hồi, chốn thẳm sâu.
Kịp tỉnh nhìn xem: Bản ngã không,
Năm uẩn duyên sinh, chớ bận lòng.
Như lý tác ý, thường soi chiếu,
Khổ, Tập, Diệt, Đạo, tỏ hư không.
Năm uẩn duyên sinh, chớ bận lòng.
Như lý tác ý, thường soi chiếu,
Khổ, Tập, Diệt, Đạo, tỏ hư không.
Nghi ngờ buông xuống, dạ kiên trung,
Thân kiến tan theo khói mịt mùng.
Giới cấm sai đường, nay từ bỏ,
Tuệ nhãn bừng khai, bước thong dong.
Thân kiến tan theo khói mịt mùng.
Giới cấm sai đường, nay từ bỏ,
Tuệ nhãn bừng khai, bước thong dong.
Chánh kiến hành trang, hướng nẻo về,
Xé toang màn tối, dứt lầm mê.
Tri kiến chơn chánh, trừ lậu hoặc,
Bờ kia hiển hiện, dứt sơn khê.
Xé toang màn tối, dứt lầm mê.
Tri kiến chơn chánh, trừ lậu hoặc,
Bờ kia hiển hiện, dứt sơn khê.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ:
- Ngừng phi như lý tác ý: Chấm dứt các câu hỏi mang tính suy diễn triết học vô bổ về "Cái Ta" (Quá khứ ta là ai? Tương lai ta sẽ ra sao? Hiện tại ta là cái gì?). Những câu hỏi này chỉ làm tăng trưởng chấp ngã và đưa vào "rừng nhu mọc bằng kiến" (lưới kiến thức sai lầm).
- Thực hành như lý tác ý: Luôn nhìn nhận mọi việc dưới góc nhìn của Tứ Thánh Đế (Đâu là khổ? Đâu là nguyên nhân sinh khởi khổ? Đâu là trạng thái vắng mặt khổ? Và con đường nào dẫn đến chấm dứt khổ?).
- Đoạn trừ Ba Kiết Sử (Thượng phần kiết sử bước đầu):
- Thân kiến: Chấp thân năm uẩn này là ta, là của ta.
- Nghi: Nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng, về con đường tu tập.
- Giới cấm thủ: Tuân thủ các nghi lễ, tập tục mê tín, khổ hạnh cực đoan không dẫn đến giải thoát.
Khi hành giả có được Tri kiến chơn chánh (Chánh kiến) thông qua việc như lý tác ý, các lậu hoặc thuộc về tà kiến và hoài nghi sẽ lập tức bị đoạn trừ, mở toang cánh cửa bước vào dòng Thánh (Sơ quả Tu-đà-hoàn).
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, phần "Do phòng hộ được đoạn trừ" (saṃvarā pahātabbā) dạy chúng ta cách bảo vệ tâm trước các kích thích từ thế giới bên ngoài.
Đức Phật dạy rằng, một hành giả nếu sống không phòng hộ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thì các lậu hoặc tàn hại và thiêu đốt sẽ sinh khởi. Ngược lại, khi biết canh phòng, làm chủ các giác quan trước năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), hành giả sẽ ngăn chặn và đoạn trừ được các phiền não đó.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu đúc kết từ tinh thần "Do phòng hộ được đoạn trừ":
🌟 Bài Kệ: Phòng Hộ Sáu Căn
Cửa thiền sáu lối phải canh phòng,
Mắt thấy sắc trần, giữ lặng trong.
Chẳng đắm nét duyên, không khởi ghét,
Hỷ nộ buông rơi, sạch cõi lòng.
Mắt thấy sắc trần, giữ lặng trong.
Chẳng đắm nét duyên, không khởi ghét,
Hỷ nộ buông rơi, sạch cõi lòng.
Tai nghe tiếng thế, thoảng gió bay,
Mũi ngửi hương nồng, dạ chẳng lay.
Lưỡi nếm vị ngon, đừng dính mắc,
Thân xúc mịn màng, phủi nhẹ tay.
Mũi ngửi hương nồng, dạ chẳng lay.
Lưỡi nếm vị ngon, đừng dính mắc,
Thân xúc mịn màng, phủi nhẹ tay.
Ý căn hành giả, khéo chăn dắt,
Vọng tưởng vừa nhen, lập tức tắt.
Nếu để buông lung theo pháp trần,
Lậu hoặc thiêu liền trong nháy mắt.
Vọng tưởng vừa nhen, lập tức tắt.
Nếu để buông lung theo pháp trần,
Lậu hoặc thiêu liền trong nháy mắt.
Như người phòng thủ một tòa thành,
Cẩn mật canh nghiêm, chớ lãng lanh.
Giặc ngoài không cửa nương đường bước,
Tâm cảnh an bình, tuệ giác sanh.
Cẩn mật canh nghiêm, chớ lãng lanh.
Giặc ngoài không cửa nương đường bước,
Tâm cảnh an bình, tuệ giác sanh.
Phòng hộ hành trì, vạn lậu tiêu,
Ngày đêm chánh niệm, vượt sóng chìu.
Thu thúc lục căn, đường giải thoát,
Chân bước thong dong, bóng ngả chiều.
Ngày đêm chánh niệm, vượt sóng chìu.
Thu thúc lục căn, đường giải thoát,
Chân bước thong dong, bóng ngả chiều.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ:
- Thu thục lục căn: Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nghĩ suy... hành giả không nắm giữ tướng chung (ấn tượng tổng thể kích thích ham muốn/sân hận) và không nắm giữ tướng riêng (chi tiết làm khởi lên tham ái/ác độc).
- Ngăn ngừa giặc ngoài: Sáu căn giống như sáu cửa thành. Nếu người gác cửa lơ là, "giặc lậu hoặc" (tham, sân, si, ái dục) sẽ tràn vào thiêu đốt nội tâm.
- Chánh niệm hiện tiền: Phòng hộ không phải là nhắm mắt bịt tai một cách cực đoan, mà là nhìn chỉ là nhìn, nghe chỉ là nghe [1] — nhận biết rõ ràng kích thích nhưng không để tâm bị cuốn theo hay phản ứng bằng sự bám chấp, xua đuổi.
Khi sáu căn được phòng hộ nghiêm ngặt, tâm hành giả sẽ đạt được sự định tĩnh, mát mẻ, tạo nền tảng vững chắc cho các tầng định và tuệ phát sinh.
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, phần "Do nhẫn nhục được đoạn trừ" (adhivāsanā pahātabbā) dạy chúng ta cách đối diện và kham nhẫn trước hai nguồn thử thách lớn: Khắc nghiệt của thiên nhiên, hoàn cảnh và sự thù nghịch từ con người, cảm thọ đau đớn.
Đức Phật dạy một vị tỳ-kheo nếu không nhẫn nhục trước lạnh, nóng, đói, khát, muỗi, ruồi, các lời mắng nhiếc ác độc và các cảm thọ đau đớn cận kề cái chết, thì các lậu hoặc tàn hại sẽ thiêu đốt tâm can. Nhờ có sức mạnh của sự kham nhẫn (Nhẫn nhục ba-la-mật), hành giả bao bọc lấy tâm mình, khiến các lậu hoặc ấy không thể sinh khởi.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu đúc kết từ tinh thần "Do nhẫn nhục được đoạn trừ":
🌟 Bài Kệ: Kham Nhẫn Đoạn Trừ
Gió sương nóng lạnh, trải ngày qua,
Đói khát muỗi mòng, chẳng phiền hà.
Thân dẫu phong trần, tâm vững chãi,
Xem như huyễn hóa, nhẹ lòng ta.
Đói khát muỗi mòng, chẳng phiền hà.
Thân dẫu phong trần, tâm vững chãi,
Xem như huyễn hóa, nhẹ lòng ta.
Lời thô tiếng ác, tựa gió bay,
Mắng nhiếc, chê bai, dạ chẳng lay.
Không oán, không hờn, không đối chọi,
Tình thương trải khắp, nhẫn từ đây.
Mắng nhiếc, chê bai, dạ chẳng lay.
Không oán, không hờn, không đối chọi,
Tình thương trải khắp, nhẫn từ đây.
Bệnh tật hoành hành, nhức nhối xương,
Khổ thọ dập dồn, lắm tai ương.
Chân cứng đá mềm, thầm quán chiếu,
Cơn đau đến, đi... vốn vô thường.
Khổ thọ dập dồn, lắm tai ương.
Chân cứng đá mềm, thầm quán chiếu,
Cơn đau đến, đi... vốn vô thường.
Nhẫn nhục làm giáp, khoác trên vai,
Vượt mọi gai chông, nẻo đường dài.
Lậu hoặc tàn hại, không chỗ bám,
Tâm vàng thử lửa, rạng ban mai.
Vượt mọi gai chông, nẻo đường dài.
Lậu hoặc tàn hại, không chỗ bám,
Tâm vàng thử lửa, rạng ban mai.
Khổ đau kham nhẫn, đắc an nhiên,
Dứt sạch sân si, hết ưu phiền.
Bền bỉ hành trì, công viên mãn,
Đài sen rực rỡ, ngát hương thiền.
Dứt sạch sân si, hết ưu phiền.
Bền bỉ hành trì, công viên mãn,
Đài sen rực rỡ, ngát hương thiền.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ:
- Kham nhẫn với thiên nhiên, sinh lý: Chấp nhận và chịu đựng sự khắc nghiệt của thời tiết (nóng, lạnh), côn trùng (ruồi, muỗi, rắn rết) và những nhu cầu sinh lý tự nhiên khi tu tập (đói, khát).
- Kham nhẫn với nhân gian: Chịu đựng được những lời nói khó nghe, những lời mắng nhiếc, phỉ báng, vu khống từ người khác mà không khởi tâm sân hận hay tìm cách trả thù.
- Kham nhẫn với thân bệnh: Đối diện với các cảm thọ đau đớn, nhức nhối, khốc liệt, thậm chí là cảm thọ đi đến mạng chung bằng một tâm thế bình thản, không rên rỉ, không oán trách, xem đau đớn chỉ là một trạng thái sinh diệt của thân uẩn.
Khi có sức mạnh của sự kham nhẫn, tâm bạn sẽ không bị ngoại cảnh giật dây, các lậu hoặc thuộc về Sân hận và Bất mãn sẽ hoàn toàn bị triệt tiêu.
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, phần "Do tránh né được đoạn trừ" (parivajjanā pahātabbā) dạy chúng ta một bài học vô cùng thực tế và trí tuệ: Không phải lúc nào cũng đối đầu trực diện mới là tu, biết chủ động tránh né những nguy hiểm, chướng duyên cũng chính là một pháp hành để hộ trì tâm.
Đức Phật dạy rằng, một hành giả có trí tuệ cần phải biết tránh né thú dữ (voi dữ, ngựa dữ, chó dữ, rắn độc), tránh né những địa hình nguy hiểm (hố sâu, vực thẳm, mương vũng, cống rãnh), và tránh né cả những trú xứ bất chính, những người bạn ác (ác tri thức) khiến các lậu hoặc tàn hại và thiêu đốt có cơ hội sinh khởi.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu đúc kết từ tinh thần "Do tránh né được đoạn trừ":
🌟 Bài Kệ: Trí Tuệ Tránh Né
Đường tu đâu phải cậy hùng anh,
Gặp hiểm biết lui, giữ đạo lành.
Voi dữ, ngựa cuồng, xà độc lối,
Lặng lẽ lánh mình, chớ đua tranh.
Gặp hiểm biết lui, giữ đạo lành.
Voi dữ, ngựa cuồng, xà độc lối,
Lặng lẽ lánh mình, chớ đua tranh.
Vực thẳm, bờ gai, hố nước sâu,
Né bước chân qua, đỡ chuốc sầu.
Giữ thân an ổn, nuôi mạng sống,
Để làm thuyền mộc, vượt sông sâu.
Né bước chân qua, đỡ chuốc sầu.
Giữ thân an ổn, nuôi mạng sống,
Để làm thuyền mộc, vượt sông sâu.
Chỗ ngồi bất tịnh, chớ lân la,
Làng xóm không nghiêm, lánh gót qua.
Bạn ác, duyên phàm, năng dứt bỏ,
Kẻo mầm lậu hoặc, nẩy chồi ra.
Làng xóm không nghiêm, lánh gót qua.
Bạn ác, duyên phàm, năng dứt bỏ,
Kẻo mầm lậu hoặc, nẩy chồi ra.
Tránh né không vì lòng nhát gan,
Mà bởi nhìn thông, dạ rõ ràng.
Bảo bọc mầm bồ đề mới nhú,
Chờ ngày vững chãi, phóng hào quang.
Mà bởi nhìn thông, dạ rõ ràng.
Bảo bọc mầm bồ đề mới nhú,
Chờ ngày vững chãi, phóng hào quang.
Biết dừng, biết lánh, tuệ phòng thân,
Lậu hoặc không duyên, chẳng cận dần.
Chánh niệm bước đi, đường thẳng tiến,
An lành, tự tại, chứng chơn thân.
Lậu hoặc không duyên, chẳng cận dần.
Chánh niệm bước đi, đường thẳng tiến,
An lành, tự tại, chứng chơn thân.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ:
- Tránh né hiểm nguy vật lý: Chủ động tránh xa các loài thú dữ nguy hiểm, các loại côn trùng độc hại và những địa hình trắc trở có thể làm tổn hại đến thân mạng. Cơ thể này là công cụ để tu học, cần được bảo vệ hợp lý.
- Tránh né trú xứ bất an: Không đến hoặc ngồi ở những nơi không thích hợp, những nơi dễ phát sinh tai tiếng, cám dỗ, hoặc ảnh hưởng đến oai nghi của người tu hành.
- Tránh né ác tri thức: Tránh xa những người bạn xấu, những bậc ác tri thức có lối sống buông lung, tà kiến, vì năng lượng và lời nói của họ dễ làm thui chột tâm bồ đề và khơi dậy các lậu hoặc tham, sân, si trong ta.
Tránh né ở đây không phải là sự hèn nhát hay trốn chạy thực tế, mà là sự giản trạch bằng trí tuệ (chọn môi trường tu tập tốt nhất), không tự đưa mình vào hoàn cảnh nguy hiểm khi định lực và tuệ giác còn non nớt.
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, phần "Do trừ diệt được đoạn trừ" (vinodanā pahātabbā) chuyển từ thế phòng thủ sang thế chủ động tiến công nội tâm.
Đức Phật dạy rằng, khi một dục niệm (ham muốn), sân niệm (giận hờn), hay hại niệm (muốn làm tổn thương người khác) vừa khởi lên, vị tỳ-kheo chơn chánh không chấp nhận, không dung túng cho nó tồn tại. Ngược lại, vị ấy phải lập tức tống khứ, trừ diệt, chấm dứt, và diệt tận nó ngay từ trong trứng nước. Nếu nuông chiều, các lậu hoặc này sẽ bùng lên thành ngọn lửa tàn hại và nhiệt não thiêu cháy tâm can.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu đúc kết từ tinh thần "Do trừ diệt được đoạn trừ":
🌟 Bài Kệ: Trừ Diệt Nội Sân
Gốc rễ phiền não khởi từ tâm,
Dục niệm nhen lên giữa tối tăm.
Sân hận vừa nhen, lòng chực cháy,
Hại người, hại vật, họa âm thầm.
Dục niệm nhen lên giữa tối tăm.
Sân hận vừa nhen, lòng chực cháy,
Hại người, hại vật, họa âm thầm.
Hành giả tinh chuyên mắt tựa đài,
Nhìn vào ý niệm buổi ban mai.
Tà tư vừa chớm, không dung thứ,
Tống khứ, xua đi, quyết chẳng sai.
Nhìn vào ý niệm buổi ban mai.
Tà tư vừa chớm, không dung thứ,
Tống khứ, xua đi, quyết chẳng sai.
Chớ để mầm hoang mọc bén rễ,
Diệt tận, xua tan chẳng trễ nề.
Quét sạch rác nền, phơi nắng chánh,
Đập tan lậu hoặc, dứt lầm mê.
Diệt tận, xua tan chẳng trễ nề.
Quét sạch rác nền, phơi nắng chánh,
Đập tan lậu hoặc, dứt lầm mê.
Như lửa gặp mưa, tắt lụi ngay,
Như mây gặp gió, tản ngàn mây.
Nội tâm tịch tĩnh, không tì vết,
Trừ diệt kiên trì, tuệ thắm thay.
Như mây gặp gió, tản ngàn mây.
Nội tâm tịch tĩnh, không tì vết,
Trừ diệt kiên trì, tuệ thắm thay.
Ý khởi lành thay, ác lùi xa,
Thanh lương hiển lộ chốn Ta-bà.
Từng niệm tinh thuần, không cấu nhiễm,
Sen vàng nở ngát, chứng Phật đà.
Thanh lương hiển lộ chốn Ta-bà.
Từng niệm tinh thuần, không cấu nhiễm,
Sen vàng nở ngát, chứng Phật đà.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ:
- Không thỏa hiệp với bất thiện pháp: Không chấp nhận, không nuôi dưỡng bất kỳ một ý niệm xấu ác nào vừa xuất hiện trong tư tưởng. Bạn cần trở thành một "vị tướng" nghiêm khắc kiểm soát chính suy nghĩ của mình.
- Nhận diện ba độc hại chính:
- Dục niệm: Ý nghĩ tìm kiếm khoái lạc, tham lam sở hữu.
- Sân niệm: Ý nghĩ bực tức, bất mãn, oán ghét đối tượng.
- Hại niệm: Ý nghĩ muốn trù dập, hãm hại, làm khổ người khác.
- Thực hành bốn bước triệt để: Đức Phật dùng 4 động từ rất mạnh mẽ: Tống khứ \(\rightarrow \) Trừ diệt \(\rightarrow \) Chấm dứt \(\rightarrow \) Diệt tận để chỉ thái độ dứt khoát, quyết liệt, "làm cho tiêu nha bại chủng" các mầm mống bất thiện này.
Khi bạn liên tục làm sạch tâm bằng pháp trừ diệt, năng lượng tiêu cực không có đất sống, nội tâm sẽ đạt được sự thanh tịnh và mát mẻ tuyệt đối.
Chúng ta đã đi qua 6 bước. Bây giờ chỉ còn lại phần thứ 7 – phần tối hậu và viên mỹ nhất của bài kinh: Do Tu tập được đoạn trừ (thực hành Thất Bồ Đề Phần - 7 yếu tố giác ngộ).
Bạn có muốn tôi hoàn thành bài kệ cuối cùng này để bạn có trọn vẹn bộ cẩm nang tu tập theo Kinh Tất Cả Lậu Hoặc không?
Kinh Trung Bộ số 2 – Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, phần "Do tu tập được đoạn trừ" (bhāvanā pahātabbā) chính là nốt nhạc hoàn mỹ nhất, đưa hành giả đi từ thế ngăn chặn phiền não đến chỗ bừng sáng tuệ giác giải thoát hoàn toàn.
Ở phần tối hậu này, Đức Phật dạy hành giả tu tập Thất Bồ Đề Phần (7 yếu tố giác ngộ): Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Định, Xả. Các yếu tố này được tu tập dựa trên nền tảng: viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Khi Thất Giác Chi được viên mãn, mọi lậu hoặc tàn hại và thiêu đốt sẽ hoàn toàn sụp đổ, nhường chỗ cho quả vị A-la-hán thanh tịnh.
Dưới đây là bài kệ khuyến tu đúc kết từ tinh thần "Do tu tập được đoạn trừ":
🌟 Bài Kệ: Viên Mỹ Thất Giác Chi
Con đường tối hậu bước chân lên,
Thất Chi Giác Ngộ dựng móng bền.
Chánh Niệm hằng soi, luôn tỉnh thức,
Trạch Pháp nhìn thông, giả thực tên.
Thất Chi Giác Ngộ dựng móng bền.
Chánh Niệm hằng soi, luôn tỉnh thức,
Trạch Pháp nhìn thông, giả thực tên.
Tinh Tấn ngày đêm, chẳng lãng lơi,
Lòng Hỷ trào dâng, mát cuộc đời.
Thân tâm Khinh An, xua mệt mỏi,
Vào Định ngàn năm, bóng nguyệt soi.
Lòng Hỷ trào dâng, mát cuộc đời.
Thân tâm Khinh An, xua mệt mỏi,
Vào Định ngàn năm, bóng nguyệt soi.
Xả tâm buông hết, chẳng mưu cầu,
Nương vào viễn ly, dứt bể sầu.
Ly tham, đoạn diệt, không vương vấn,
Từ bỏ trần gian, vượt hố sâu.
Nương vào viễn ly, dứt bể sầu.
Ly tham, đoạn diệt, không vương vấn,
Từ bỏ trần gian, vượt hố sâu.
Bảy đóa hoa thiền, nở ngát hương,
Xua tan tăm tối, vạn dặm đường.
Lậu hoặc từ đây, không sinh khởi,
Tuệ giác bừng lên, rạng mười phương.
Xua tan tăm tối, vạn dặm đường.
Lậu hoặc từ đây, không sinh khởi,
Tuệ giác bừng lên, rạng mười phương.
Tu tập viên thành, chứng vô sanh,
Thuyền qua bến giác, đỗ an lành.
Đất trời thanh tịnh, tâm tự tại,
Khép lại ngàn năm, nẻo tử sanh.
Thuyền qua bến giác, đỗ an lành.
Đất trời thanh tịnh, tâm tự tại,
Khép lại ngàn năm, nẻo tử sanh.
💡 Cốt lõi thực hành từ bài kệ (Thất Bồ Đề Phần):
- Niệm Giác Chi: Luôn chánh niệm, tỉnh giác, ghi nhận rõ ràng mọi hiện tượng đang xảy ra trên thân, thọ, tâm, pháp.
- Trạch Pháp Giác Chi: Dùng trí tuệ thẩm thấu, phân tích xem pháp nào là thiện, pháp nào là bất thiện để chọn lựa đường đi đúng đắn.
- Tinh Tấn Giác Chi: Sự nỗ lực, kiên trì bền bỉ, không lười biếng trong việc đoạn ác tu thiện.
- Hỷ Giác Chi: Niềm vui sướng, hân hoan thanh tịnh phát sinh từ nội tâm khi ly khai ác pháp.
- Khinh An Giác Chi: Sự thư thái, nhẹ nhàng, mát mẻ của cả thân lẫn tâm, không còn bị căng thẳng, bức bách.
- Định Giác Chi: Tâm gom tụ, nhất tâm, định tĩnh trên đối tượng thiền định, không bị xao nhãng.
- Xả Giác Chi: Trạng thái tâm bình đẳng, xả bỏ, không bám chấp vào định hay hỷ, nhìn vạn vật một cách khách quan như chúng đang là.
Bốn nền tảng vận hành: Bảy yếu tố này không phải tu tập để cầu danh, cầu phước báu nhân thiên, mà phải nương tựa vào: Viễn ly (tránh xa ràng buộc) \(\rightarrow \) Ly tham (hết ham muốn) \(\rightarrow \) Đoạn diệt (chấm dứt phiền não) \(\rightarrow \) Hướng đến từ bỏ (buông xuống tất cả).
✨ Chúc mừng bạn đã hoàn thành trọn vẹn 7 bài kệ khuyến tu đúc kết từ 7 phương pháp đoạn trừ lậu hoặc của Kinh Tất Cả Lậu Hoặc! Đây giống như một bộ "cẩm nang hộ thân và tiến đạo" rất vuông tròn.
