Logo Footer

Pháp môn tu hành nào chân chánh ? Thánh Đức Dalai Lama khai ngộ thâm sâu

Tác giảHẠC TUỆ

Pháp môn tu hành nào chân chánh ? | Thánh Đức Dalai Lama khai ngộ thâm sâu https://www.youtube.com/watch?v=BFiMoiRvvzw

Kính thưa chư vị, thời đại ngày nay không phải ai khởi tâm tu hành cũng dễ dàng gặp được chánh pháp chân chính. Thế gian ngày nay kinh điển được in ấn muôn quyển, sách luận giảng tràn lan khắp nơi. Nhưng pháp chân thật, con đường có khả năng giải thoát tâm con người ra khỏi vô minh, tham ái và khổ đau, lại hiếm hoi khó gặp như viên minh châu giữa biển cát.

Chánh pháp chân chính không chỉ cần lời biện giải mà cần được soi sáng thấu đáo bằng kinh luật luận để lời nói trở thành pháp âm có gốc rễ từ tam tạng chứ không phải ngôn từ thế tục. Đức Phật từng dạy trong kinh Pháp cú, “khó thay được làm người, khó thay được sống còn, khó thay nghe diệu pháp, khó thay Phật ra đời”. Bốn điều khó ấy là thước đo của duyên lành. Được làm người đã khó, nghe được pháp đúng lại càng khó hơn và gặp được bậc thầy biết chỉ con đường chân chính lại là điều vô cùng hy hữu. Vì thế người biết mình đang được học pháp chân chánh phải biết cảm ơn, hộ trì và hành trì chứ không chạy theo điều kỳ dị, quyền năng hay tà kiến, khiến tâm càng ngày càng xa ánh sáng của Như Lai.

Gặp được pháp môn thích hợp với căn cơ của mình là nhờ thiện duyên nhiều đời nhiều kiếp tích tụ công đức, giới hạnh và trí tuệ. Trong kinh Phật đã thuyết: "Này các Tỳ Kheo, có hai hạng người khó gặp trên đời. Một là người biết ơn và biết trả ơn, hai là người chỉ dạy chân lý. Cho nên gặp được bậc minh sư và pháp hành chân chính là phước báo hiếm có giữa cõi nhân gian. Những ai đang lạc giữa rừng pháp môn hãy dừng lại đôi chút và soi vào chính tâm mình. Nếu tâm chưa thuần tịnh thì dù pháp cao siêu cũng chỉ là vọng tưởng. Nếu tâm đã tịnh thì chỉ một hơi thở, một niệm thiện cũng đủ là cửa giải thoát.

Như trong kinh Phật từng nói, pháp được Như Lai khéo thuyết, hiển bày ngay hiện tại, không bị thời gian chi phối, dẫn đến Niết bàn, người có trí tự mình chứng ngộ. Đoạn kinh trên chính là tinh yếu của toàn bộ giáo pháp Phật Đà, thường được gọi là hãy đến mà thấy, nằm trong phẩm tán thán pháp của nhiều bản kinh nguyên thủy.

Nếu ta khai triển tầng ý nghĩa sẽ thấy được chiều sâu vô tận ẩn trong mấy câu ngắn ấy. Pháp được Như Lai khéo thuyết. Chữ khéo thuyết không chỉ nói Phật giảng hay mà là pháp đã được trình bày viên mãn là chân chánh pháp là đúng thời, đúng căn cơ, đúng căn tánh của chúng sinh. Cũng là nói rằng pháp ấy không do tưởng tượng, không do triết lý nhân gian, mà là từ trí tuệ toàn giác như ánh sáng chiếu rọi chính thực tánh của vạn pháp. Pháp của Như Lai không thêm bớt, không sai biệt, dù nói bằng ngôn ngữ hữu hạn, vẫn chỉ thẳng đến vô lượng chân lý nơi mọi hình tướng. Người nghe pháp đúng duyên sẽ cảm được năng lượng khéo thuyết. Đó là pháp tự vận hành trong tâm họ khiến phiền não lắng dịu, tâm sáng ra như gương trong hiển bày ngay hiện tại. Pháp Phật không thuộc về quá khứ, không chờ tương lai. Nó hiển lộ trong giây phút này, trong từng hơi thở, trong từng xúc chạm của thân, khẩu ý. Đức Phật không dạy con người chạy đi tìm giải thoát ở đâu xa. Ngài chỉ ta thấy thực tại đang là bởi chính nơi đây là cửa ngõ vào niết bàn. Khi tâm không vọng tưởng, khi thấy rõ thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe thì đó là hiển bày ngay hiện tại. Giải thoát không phải đợi chết mà đang xảy ra khi tâm biết mình là tánh biết, không bị thời gian chi phối. Pháp ấy vượt ngoài thời gian vì chân lý không sinh không diệt. Cũng như hư không, nó không bị mùa xuân hay mùa hạ làm thay đổi. Tất cả pháp hữu vi đều bị thời gian bào mòn, nhưng pháp của Như Lai chỉ thẳng tánh không nên vô thủy vô chung.

Ai chứng nhập được thực tánh ấy thì dù thân vẫn ở giữa dòng sinh tử, tâm họ đã ra ngoài mọi biến hoại. Người ấy không còn đợi một ngày giải thoát. Vì từng giây phút sống với tánh biết đã là vô thời, vô sinh, vô diệt dẫn đến Niết bàn. Pháp ấy không chỉ là lý thuyết an ủi mà là con đường thực hành đưa hành giả từ khổ đau đến giải thoát. Từng pháp môn đều là cỗ xe hướng thượng, niết bàn không ở cuối đường mà là đích đang bày ra trên mỗi bước đi tỉnh thức. Như người chèo thuyền giữa vòng, mỗi nhịp chèo là tiến gần bờ giác chứ không phải đợi tới cuối mới chạm. Người có trí tự mình chứng ngộ. Đây là lời thức tỉnh sâu nhất.

Pháp của Như Lai không ai ban cho ai, không thể học thuộc mà thành, chỉ có thể tự thân chứng nghiệm. Trí tuệ ấy không đến từ sách mà từ chính kinh nghiệm tỉnh thức của mình. Ai biết quay vào thấy tánh tâm thì ngay đó chứng ngộ như chư Phật. Vì Phật và chúng sinh vốn cùng một tánh giác. Năm đặc tính này của pháp khéo thuyết hiển hiện vô thời vẫn giải thoát. Người trí tự chứng là năm cánh hoa sen nở trong tâm của người có duyên nghe pháp. Điều này chúng minh chứng rằng Phật pháp không phải tín ngưỡng mà là khoa học của tâm linh. Pháp sẽ mãi trường tồn. Chân chánh pháp không bao giờ bị diệt, chỉ là do vô minh mà chúng sinh không thấy mà thôi. Và Phật pháp cũng không phải triết học trừu tượng mà là trí tuệ thực nghiệm đưa con người vượt ngoài mọi giới hạn của nhận thức nhị nguyên.

Chư vị hữu duyên đã từng được nghe những lời dạy trong đoạn kinh trên của Đức Thế Tôn. Hãy biết trân quý duyên lành hy hữu ấy. Nguyện hộ trì chánh pháp. Giữ tâm thanh tịnh giữa cõi đời nhiễu loạn và bước đi kiên định trên con đường giới định tuệ hay con đường Bồ Tát đạo đầy từ bi hoặc pháp môn Tịnh Độ cũng như các pháp hành của Kim Cang Thừa hay hạnh tu quán chiếu của bậc Duyên Giác.

Dù đi theo con đường nào, nếu tâm được an tịnh, trí được sáng soi và lòng từ bi được khai mở, đem lại lợi lạc cho chúng sinh thì ấy chính là con đường chân thật. Nó giúp mỗi người tự độ được mình rồi độ người, đem ánh sáng giác ngộ lan tỏa khắp muôn phương, khiến pháp giới đều cùng chung một vị. Vì giải thoát, vì niết bàn, người hành giả cần giữ tâm khiêm cung mà vững chãi trong giới luật, vừa học rộng kinh điển, vừa thực hành, vừa phát triển bồ đề tâm. Chính trong thiền định và đời sống tỉnh thức trong bồ đề tâm, lời Phật sẽ tự hiển lộ như ánh trăng trong hồ tĩnh, không thêm, không bớt, không sai khác. Chư vị phải biết giữ cái nhìn thanh tịnh, nương đúng thầy, chọn đúng đường, hành đúng pháp để đời sống vừa an lạc, vừa góp phần khiến thế gian này thêm sáng bằng ánh từ bi và trí tuệ của Như Lai. Đạo Phật xét đến tận cùng không phải là tôn giáo để cầu xin, mà là con đường tỉnh thức dẫn con người trở lại chân tánh sáng suốt vốn có. Cốt lõi của đạo Phật không nằm ở hình thức lễ nghi hay lời tụng suông mà chính là phương pháp chuyển hóa tâm. Như kinh Pháp Hoa dạy, chư Phật ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên, đó là khai thị cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật. Pháp là con đường chuyển hóa tâm, không phải là sự tích lũy kiến thức để nghi hay học vị. Nếu tu mà tâm không chuyển thì đó chỉ là tu trong vọng tưởng. Nếu học mà không hành thì đó là trí thức thế gian, không phải trí tuệ giải thoát. Với người cư sĩ tại gia, cốt lõi là biết dung hòa giữa đời và đạo. Đạo không tách rời đời, phải biết dung hợp giữa đạo và hiếu, vừa tu dưỡng thân tâm, vừa tròn trách nhiệm với gia đình và xã hội. Phật dạy trong kinh Thiện Sinh rằng người cư sĩ biết hiếu dưỡng cha mẹ, trung tín với bạn đời, từ hòa với con cái, chân thật với bạn bè và khi có của cải thì chia sẻ cho kẻ thiếu thốn. Ấy chính là người sống trong pháp. Trong này, Đức Phật đã dạy rõ cách một cư sĩ sống đúng đạo, giữ năm giới, hiếu kính cha mẹ, trung tín với bạn đời và biết làm lợi cho tha nhân. Đó chính là hạnh phúc thiết thực của người cư sĩ. Sống giữa đời mà vẫn tu, đó là hạnh của người giữ đạo giữa trần thế. Bởi đạo không bắt buộc phải ở nơi chùa tháp mà ở ngay trong từng niệm thiện lành, từng hơi thở tỉnh thức.

Còn với người xuất gia hành đạo, mục đích tối hậu là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Như kinh Đại Bát Niết Bàn dạy, tự độ, độ tha, độ hành viên mãn ấy là con đường của Bồ Tát. Tu hành không phải để trốn đời mà là để trở lại giữa đời, dùng tâm vô ngã và trí vô biên mà cứu độ hữu tình. Người xuất gia không chỉ cầu giải thoát cho riêng mình mà còn phải trở thành ngọn đèn soi lối cho chúng sinh trong bóng tối vô minh. Nếu xa lìa lòng từ tâm kiêu mạn nổi dậy, lấy danh vọng hay tín thí làm mục tiêu thì dù mặc áo ca sa cũng đã rời xa đạo của Phật. Vì thế người tu, người cư sĩ hay học giả Phật học đều cần tuệ phân biệt để nhận ra đâu là lời Phật dạy chân chính. Đâu là chú giải, đâu là ý riêng của người hậu thế. Đức Thế Tôn từng cảnh tỉnh trong kinh Đại Bát Niết Bàn. Này các Tỳ kheo, chớ vội tin điều gì chỉ vì nghe đồn, chớ vội tin chỉ vì truyền thống, chớ vội tin chỉ vì kinh điển được truyền tụng, chỉ khi nào tự mình biết rõ pháp này thiện, pháp này đưa đến an lạc, pháp này được người trí tán thán, lúc ấy hãy thọ trì. Đó là tinh thần tự do tư duy nhưng dựa trên trí tuệ và thực chứng. Người học Phật cần biết soi chiếu qua thực hành, quán chiếu và nghiệm chứng trong đời sống không phải bằng lòng tin mù quáng mà bằng sự tỉnh thức và hiểu biết. Đây chính là tinh thần khai phóng và trí tuệ của Phật giáo.

Tin không phải vì lời nói mà vì trải nghiệm chứng nghiệm nơi chính tâm mình. Ngày nay nhiều người tu chạy theo pháp lạ, năng lực siêu nhiên, thần thông mà quên mất trí tuệ và từ bi là cội gốc của Phật đạo. Một pháp môn chân chánh phải dẫn tâm người về vô ngã, từ bi và giải thoát chứ không dẫn đến chấp ngã, mê tín hay tà dục. Phật từng nói trong kinh tương ưng bộ, những gì khiến tham ái tăng trưởng ấy không phải là pháp của ta. Những gì khiến tham ái đoạn diệt ấy chính là pháp của ta. Cho nên hãy lấy từ bi và trí tuệ làm thước đo của mọi pháp. Nếu pháp nào khiến tâm an, khiến lòng hiền, khiến người sống thiện, giúp xã hội an vui thì pháp ấy là chánh pháp. Nếu pháp nào khiến tâm loạn, khiến lòng kiêu, khiến người tranh luận, chia rẽ, phỉ báng, thì pháp ấy dù có khoác áo đạo cũng là tà pháp.

Lời Phật dạy vĩnh viễn là chân lý vượt thời gian. Khi được hiểu đúng, lời ấy không mâu thuẫn với đạo đức phổ quát cũng sẽ không trái với khoa học hiện đại. Chính tôi khẳng định, nếu khoa học chứng minh điều gì trái với kinh điển thì chúng ta phải sẵn sàng hiểu lại kinh điển. Chân chính kinh điển sẽ không bao giờ sai, là do cách hiểu luận giải của chúng ta đã sai. Chúng ta không sợ hãi khi phải hiểu lại kinh điển. Vì chân lý không thể mâu thuẫn với chân lý. Vì Phật là bậc toàn tri. Ngài đã thấy thấu bản chất của pháp giới vũ trụ, vật chất và tâm thức trong vùng không thời gian này. Những khám phá về vật lý lượng tử, trường không gian hay sự tương duyên của các hạt cơ bản chỉ là sự minh chứng muộn màng cho nguyên lý duyên khởi mà Đức Phật đã tuyên thuyết hơn 2500 năm trước. Do cái này có nên cái kia có. Do cái này sinh nên cái kia sinh. Khi khoa học nói rằng mọi vật chỉ là dao động năng lượng trong trường không gian thì đó chính là điều mà Phật đã dạy. Khoa học nhìn thấy tương quan năng lượng, Phật pháp thấy tánh không và duyên sinh. Khoa học thấy sóng, Phật thấy vô ngã. Khi vật lý lượng tử chứng minh sóng hạt tồn tại song song, Phật đã nói về tánh không, bản chất của mọi hiện tượng là không có tự ngã cố định. Hai con đường ấy, nếu không bị hiểu sai, đều cùng hướng về chân lý của hiện hữu.

Như vậy, Phật pháp không hề xung đột với  khoa học. Khoa học là ngón tay chỉ vật lý, Phật pháp là ngón tay chỉ tâm thức. Khi hai ngón tay cùng hướng về một mặt trăng chân lý, con người sẽ thấy rõ sự hợp nhất giữa vật và tâm, giữa vũ trụ và pháp giới. Khi các nhà thần kinh học nói, ý thức có thể ảnh hưởng vật chất, đó cũng là điều mà kinh Hoa Nghiêm phẩm nhập Pháp giới đã dạy rõ. Tâm như người họa sư khéo vẽ nên muôn hình tướng của năm uẩn. Đức Phật dùng hình ảnh người họa sư khéo đế chỉ chính tâm thức con người, năng lực sáng tạo vi diệu nhất trong toàn thể pháp giới. Tâm không đơn thuần chỉ nhìn thế giới mà còn tham dự vào việc định hình thế giới ấy. Nghĩa là cảnh có thật trong tính duyên khởi nhưng cái thật ấy không tách rời tâm đang biết nó. Đây cũng là chỗ dung hợp giữa trung quán tánh không và khoa học hiện đại. Phật không dạy rằng thế giới là không thật có. Ngài dạy rằng mọi hiện tượng đều là duyên khởi nghĩa là không vật gì tồn tại độc lập mà mọi vật nương nhau mà có. Trong đó tâm người quan sát là một trong những duyên trọng yếu giống như các hạt trong vật lý lượng tử. Chỉ khi có người quan sát nó mới chọn biểu hiện là sóng hay hạt. Điều đó không có nghĩa nó là hạt ảo mà là trạng thái của nó phụ thuộc vào điều kiện nhận thức. Người họa khéo có thể vẽ núi non, sông biển, người vật, ánh sáng hay bóng tối đều từ ý tưởng và bàn tay của mình. Cũng vậy, tâm có ảnh hưởng lên toàn bộ thế giới mà ta đang sống.

Do duyên nghiệp của tâm đời trước đã tạo nên thân thể này sắc uẩn. Do duyên nghiệp của tâm đời này đã tạo nên cảm thọ buồn vui thọ uẩn. Do duyên nghiệp của tâm đời này đã tạo nên hình ảnh và ý niệm tưởng uẩn. Do duyên nghiệp của tâm đời này đã tạo nên chuỗi tác ý phản ứng nghiệp hành, hành uẩn và cuối cùng tâm thức phân biệt tri giác thức uẩn. Tất cả năm uẩn tức toàn bộ cái ta và thế giới đều do tâm ảnh hưởng, không có một thực thể nào độc lập ngoài tâm. Cảnh và tâm chỉ là hai mặt của một tấm gương duyên khởi. Khi tâm an tịnh, thế giới thanh tịnh. Khi tâm loạn động, thế giới trở nên nhiễu loạn. Khi tâm con người đầy tham sân, thế giới được thấy là xấu ác, bất công. Khi tâm từ bi, thế giới liền trở nên sáng rỡ, an lành. Cảnh vẫn là cảnh, nhưng tần số tâm thay đổi nên phản ứng của thế giới cũng đổi. Người phàm thấy cảnh sinh tâm, bậc trí thấy tâm hiện cảnh. Đó là chỗ khác biệt giữa phàm phu và bậc giác ngộ. Tâm chính là nguyên nhân, cảnh là kết quả.

Trong kinh Phật cũng dạy ba cõi chỉ là tâm, muôn pháp chỉ do thức hiện. Thế giới vật chất này từ tinh cầu hạt bụi đến thân thể của ta chỉ là sóng dao động trong trường biển tánh biết nguyên sơ. Cái mà ta gọi là vật chất thực ra là dòng thông tin năng lượng được tâm nhận biết, diễn dịch và định danh. Nếu tâm thay đổi, tần số nhận thức đổi thì thế giới cũng đổi theo. Đó là lý do vì sao cùng một hoàn cảnh, người an định thấy an lạc, người sân hận thấy địa ngục. Không phải thế giới khác nhau mà tâm cảnh khác nhau, tần số năng lượng khác nhau. Cho nên cải tạo thế giới không thể bắt đầu từ bên ngoài mà phải bắt đầu từ bên trong nơi tâm. Khi tâm được điều phục, thế giới liền trở nên an ổn như kinh Tương ưng bộ Phật dạy rõ, tâm điều phục đem an lạc đến cho tất cả.

Ngày nay, các nhà thần kinh học và vật lý lượng tử đang tiến gần đến cùng một chân lý mà Phật đã tuyên thuyết hơn 2000 năm trước. Họ phát hiện rằng ý thức có thể ảnh hưởng vật chất, có thể làm thay đổi cấu trúc não bộ, hướng dòng năng lượng, thậm chí tác động đến quỹ đạo của các hạt vi mô. Khi nhà vật lý nói người quan sát ảnh hưởng đến vật bị quan sát thì đó chính là lời xác chứng cho chân lý Phật dạy về tâm và cảnh không hai. Khi các nhà thần kinh học chứng minh rằng thiền định có thể tái cấu trúc nếp gấp não, thay đổi chất hóa học trong cơ thể, thì đó cũng là minh chứng rằng tâm có năng lực trực tiếp định hình vật chất. Tất cả những gì khoa học đang phát hiện chỉ là những mảnh nhỏ của chân lý mà Đức Phật đã thấu suốt trọn vẹn. Ngài không cần phòng thí nghiệm vì toàn bộ pháp giới là phòng thí nghiệm của tâm giác ngộ. Các nhà vật lý gọi đây là người quan sát làm thay đổi kết quả thí nghiệm. Phật giáo gọi là duy tâm sở hiện, pháp giới biểu lộ tùy theo nghiệp thức. Như vậy tâm không tạo ra thế giới mà cộng hưởng cùng tất cả duyên để thế giới hiển lộ theo nghiệp, theo nhận thức. Nói cách khác, thế giới không nằm trong tâm, nhưng thế giới không thể hiển hiện ngoài tâm.

Giống như màn hình và hình ảnh, màn hình không tạo ra bộ phim nhưng nếu không có màn hình, phim chẳng thể hiện. Tâm chính là nền hiển thị của vũ trụ, không phải người mơ tạo mộng. Khi tâm còn phàm phu hoạt động, nó sẽ tương ưng với thế giới luân hồi, nơi có sinh tử vui buồn đối đãi. Khi tâm giác ngộ hiển lộ, vì cách của nó cao hơn là pháp giới thanh tịnh, nơi mọi hiện tượng đều rỗng rang diệu dụng mà không chấp ngã. Thế giới mà ta thấy là phản ánh sống động của chính nghiệp tâm mình. Từng cảnh là từng ý niệm, từng cảm xúc, từng hành động tích tụ qua vô lượng kiếp, kết thành cảnh giới mà ta đang sống hôm nay. Thay đổi nghiệp không phải là sửa cảnh mà là sửa họa sư, tức sửa tâm.

Từ nhận biết này, khổ đau sẽ biến thành trí tuệ. Khi hiểu rằng tâm ta ảnh hưởng đến hiện thực, ta biết rằng việc tu tập không phải trốn khỏi thế giới mà là chuyển hóa cách tâm ta phản ứng với thế giới. Một niệm sân có thể làm cả căn phòng nặng nề, một niệm từ bi có thể khiến bầu không khí đổi khác. Đó chính là tác động năng lượng thật sự trong trường duyên khởi. Cho nên người tu không chối bỏ cảnh giới mà chỉnh lại tần số tâm để cảnh giới trở nên thuận theo đạo. Đó là chỗ tâm chuyển cảnh mà không diệt cảnh. Tâm như họa sư khéo không phải là lời ví von mà là sự thật nền tảng của vũ trụ và nhân sinh.

Tâm là nguồn gốc của mọi hiện tượng. Cảnh giới là bức tranh của tâm, vật chất là cái nhìn của ý thức. Hiểu được điều này, hành giả không còn tìm Phật ở ngoài, không còn mong phép lạ từ đâu khác. Vì ngay nơi tâm thanh tịnh ấy chính là Phật. Và ngay khi ý niệm khởi thiện, đó là đạo. Khi thấy rõ tâm là họa sư, hành giả trở thành người họa lại chính vũ trụ của mình, biến khổ đau thành từ bi, biến vô minh thành trí tuệ và dần dần bức tranh luân hồi chuyển thành bức họa của giải thoát và an lạc vô biên. Pháp giới không phải vật chất thuần túy, nó là sự đồng hiện giữa tâm và cảnh, giữa năng lượng và nhận thức, giữa hữu và không.

Đức Phật thấy rõ điều này khi giác ngộ dưới cội bồ đề. Tất cả pháp từ nhân duyên sinh, nhân duyên diệt. Như Lai nói vậy, khi hành giả hiểu rằng tâm ảnh hưởng đến cảnh, nghĩa là mỗi niệm khởi đều lan sống trong toàn thể pháp giới, thì khổ đau không còn là kẻ thù mà là tín hiệu của tâm đang chạm vào giới hạn của chính mình. Khổ không phải do thế giới ép đặt mà là do phản ứng của tâm trước thế giới. Vì thế muốn thoát khổ không cần than trách đổ lỗi cho thế giới mà chuyển hóa chính phản ứng của tâm.

Nếu thấy khổ là pháp, ta sẽ không còn sợ khổ. Trong kinh Tạp A Hàm, Đức Phật dạy nếu người nào thấy khổ, tức là thấy Tập Diệt Đạo. Thấy Khổ không phải để trốn mà là nhìn xuyên qua nó để thấy sự thật. Mọi cảm thọ sinh diệt theo nhân duyên, không có chủ thể thật khổ. Người trí không chạy trốn khổ mà quán chiếu khổ để thấy Tánh Không. Thấy rằng trong bản chất khổ chỉ là một dạng dao động của tâm chưa quân bình. Như nhà vật lý lượng tử quan sát hạt trong dao động bất định, người tu hành quan sát tâm trong cơn dao động cảm xúc. Cả hai đều không can thiệp bằng cưỡng ép mà bằng tỉnh giác thuần tịnh. Và khi đó hiện tượng liền tự trở về cân bằng. Khi tâm ta an tĩnh, khổ đau sẽ tan chảy vào từ bi. Khi một hành giả dừng lại, thở sâu và quán chiếu, khổ này không phải của ta, chỉ là cảm thọ đang khởi lên, thì ngay trong khoảnh khắc ấy, tâm đã trở thành người quan sát thuần khiết.

Từ vị trí đó ta không còn bị cuốn trong làn sóng cảm xúc mà nhìn thấy chúng như những đợt sóng trên mặt đại dương tâm. Khi ta không chống lại sóng, sóng tan. Khi ta thương được chính nỗi khổ, khổ chuyển thành năng lượng từ bi. Đây chính là điều trong kinh đã dạy. Chiến thắng hận thù bằng tình thương, chiến thắng ác ý bằng từ tâm.

Khổ đau chính là trường học dạy ta hiểu được người khác đang khổ thế nào để phát khởi lòng từ vô lượng. Nếu không từng nếm khổ, ta không thể thật sự thương ai. Khi ta đã thấu hiểu tất cả nhân duyên, khổ đau sẽ trở thành đạo lộ giác ngộ. Đức Phật sau khi thành đạo, ngài nói, "Chính nhờ khổ mà ta tìm cầu con đường thoát khổ." Thưa chư vị, nếu không có khổ, chẳng ai khởi tâm cầu giác ngộ. Thế giới mà không có khổ chính là đã trở thành cõi cực lạc.

Do vậy, trong cái nhìn của bậc trí, khổ không còn là đối nghịch với hạnh phúc mà là người thầy bí mật. Người dẫn ta từ bản năng đến tịnh thức. Tâm tịnh tức độ tịnh. Khi tâm thanh tịnh, thế giới liền trở nên thanh tịnh. Ngược lại, khi tâm đầy sân hận, thế giới liền phản chiếu sân hận ấy. Vì vậy, mỗi lần ta hóa giải được một nỗi khổ trong lòng là một lần tâm toàn thể nhân loại cũng được chữa lành một phần. Mỗi khi khổ đau khởi lên, chư vị có thể thực hành pháp hành quán khổ thành từ bi như vậy, nỗi khổ sẽ dịu đi. Dừng lại, thở sâu ba hơi, ý thức đây là cảm thọ đang khởi lên. Nhìn thẳng cảm xúc như nhà khoa học nhìn vào hiện tượng, không phán xét, chỉ quan sát. Quán tưởng nguyện cho tất cả chúng sinh đang chịu khổ tương tự được an lành, gửi năng lượng từ bi ra toàn thể pháp giới. Bằng pháp quán này, tâm ta chuyển từ trạng thái co rút ngã chấp sang trạng thái mở rộng, từ bi vô ngã. Và chính sự mở rộng ấy làm năng lượng khổ đau tan chảy. Khoa học gọi đây là tâm từ bi tạo ra sóng nhịp tim và trường năng lượng điều hòa, lan tỏa ảnh hưởng tích cực đến môi trường chung quanh. Phật giáo gọi là từ tâm tam muội, nơi hành giả và thế giới trở nên một nhịp mạch yêu thương.

Khi tâm chư vị thuần từ bi thì mọi pháp đều trở thành đạo. Đến giai đoạn này, hành giả không còn cần khổ vì không còn ai để khổ. Chỉ còn trí tuệ biết khổ là sóng, từ bi là đại dương. Tâm người ấy tự nhiên như mặt trời soi khắp, chiếu ánh sáng hiểu biết và an lành lên muôn vật. Đó chính là Bồ Tát hạnh giữa đời thường, nơi khổ đau của thế gian không còn là gánh nặng mà là nhiên liệu cho trí tuệ và lòng thương vô hạn. Thế giới vẫn ở đó. Nhưng cách ta cảm nhận thế giới thay đổi theo tâm. Tâm từ bi làm pháp giới mềm mại, tâm sân hận làm pháp giới khô cứng.

Hiểu điều này, hành giả không còn hỏi làm sao hết khổ mà hỏi làm sao để khổ đau của ta trở thành con đường cho người khác bớt khổ. Đó là tinh thần Bồ Tát. Chuyển hóa nội tâm thành năng lượng cứu độ, chuyển đau thương thành từ quang để mỗi hơi thở, mỗi ý nghĩ, mỗi hành động đều trở thành dao động chữa lành cho pháp giới.  

0 / 5 (0Bình chọn)
Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận