Tu hành là gì – Đạt Lai Lạt Ma , Dalai Lama 14
https://www.youtube.com/watch?v=-LTWsM5VzNE
Thưa chư vị, từ vô lượng kiếp chúng sinh luôn hỏi một câu tưởng như đơn giản, tu hành là gì? Nhưng đây lại là câu hỏi khó nhất, chỉ có một vị Phật toàn giác mới cho chúng ta câu trả lời toàn vẹn. Câu hỏi ấy cũ như thế giới, nhưng mỗi lần được thốt lên, toàn bộ pháp giới lại rung lên. Bởi đây không phải câu hỏi của trí óc mà là tiếng gọi của bản tánh. Và chư vị câu hỏi càng đơn giản bao nhiêu thì chiều sâu của nó càng thâm thẳm bấy nhiêu. Bởi vì nó không phải câu hỏi đế trả lời bằng lời mà là câu hỏi để mở ra đạo.
Một phàm nhân hỏi tu hành là gì, sẽ tìm giáo điều. Một người thiện căn hỏi tu hành là gì, sẽ tìm phương pháp. Một hành giả hỏi tu hành là gì, sẽ tìm bản tâm. Nhưng khi một vị Phật hỏi câu ấy, ngài đang chỉ thẳng vào bản chất tối hậu của tâm, vào nguồn cội của sự sinh diệt, hiện mất, vào nút xoay bí mật của luân hồi và giải thoát, và vì sao toàn bộ pháp giới rung động. Bởi vì bất kỳ ai hỏi câu này với tất cả sự chân thành đều đang gõ đúng cánh cửa duyên khởi, cánh cửa mà Đức Thích Ca đã mở ra đêm thành đạo. Đó là khoảnh khắc mà tâm bắt đầu quay về chính mình. Khoảnh khắc mà ánh sáng đầu tiên xuyên qua lớp vô minh dày đặc. Khoảnh khắc mà chúng sinh nhận ra, tất cả khổ đau, si mê, phiền não không đến từ thế gian mà đến từ tâm nhiễm ô của chính mình.
Cho nên mới có lời cổ pháp, biết hỏi đúng câu hỏi, tức là đã bước vào đạo, và từ đây hành trình mở ra cho chúng sinh. Không phải đi tìm quyền năng, không phải đi tìm giáo điều, không phải đi tìm thần lực mà là trở về lau sạch cội nguồn tâm thức, để Phật tánh tự hiển, để trí tuệ tự sinh, để vô minh tự tan như sương dưới mặt trời.
Chư vị khi hiểu được chiều sâu của câu hỏi ấy, mỗi hơi thở trở thành thiền, mỗi niệm trở thành cửa vào giải thoát, mỗi nghiệp trở thành bài học, mỗi đau khổ trở thành thầy của ta. Và ta sẽ thấy tu hành không phải là thêm điều gì mới vào mình. Tu hành là buông bớt những thứ chưa bao giờ thuộc về mình.
Nếu trả lời sai đáp án, cả đời sẽ tu sai. Nếu câu trả lời mơ hồ cả đời lạc hướng. Vì tu hành không phải con đường dẫn ra bên ngoài mà là cánh cửa mở vào chính bản thể sâu thẳm nhất của mỗi chúng ta. Nhưng cánh cửa ấy đã bị khóa rất lâu. Khóa bởi cái gì? Bởi vô minh. Và vô minh từ đâu mà có? Không phải từ thế gian, không phải từ hoàn cảnh mà từ một thứ rất gần chính là tâm bị nhiễm ô. Một tâm bị phủ bụi thì nhìn đâu cũng mờ. Một tâm bị chất độc nghiệp lực che phủ thì thấy sai về bản thân, về người khác, về vũ trụ. Và thế là bánh xe luân hồi cứ thế xoay xoay mãi. Chư vị thân mến, tu hành không phải để trở thành ai đó khác, không phải để tích thêm tri kiến, nghi lễ hay thần thông. Tu hành là để lau sạch tấm gương tâm, để ánh sáng vốn có của mình tự chiếu ra.
Khi tâm sạch vô minh tan, khi vô minh tan, chân tánh hiển, khi chân tánh hiển, niết bàn không cần tìm, nó tự hiện ngay đây. Cho nên toàn bộ Phật pháp từ Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo cho đến thiền định, mật pháp, bồ đề tâm, Tịnh độ đều chỉ vào một điều duy nhất: làm sạch tâm. Một câu đơn giản nhưng là cả bản đồ dẫn xuyên qua sinh tử. Hôm nay chúng ta sẽ cùng đi vào con đường ấy.
Từ nguồn gốc vô minh đến cơ chế nhiễm ô của tâm đến pháp làm sạch tâm theo duy thức tánh Không và Bồ đề tâm. Từ hơn 2000 năm, chư Thánh, Tổ đều bắt đầu con đường bằng chính câu hỏi này.
Người đời thường nghĩ tu là làm thêm điều gì? Nhưng Phật dạy hoàn toàn đơn giản. Tu không phải thêm. Tu là bớt, bớt tham, bớt sân, bớt si, bớt chấp ngã, bớt nhiễm ô trong tâm. Cho nên câu hỏi “tu hành là gì?”, chính là câu hỏi để mở cánh cửa giác ngộ. Hiểu đúng câu này là hiểu đúng toàn bộ đạo Phật.
Có ba con đường sai lầm mà chúng sinh thường lạc vào. Đầu tiên tìm tu trong kinh điển mà không chịu soi tâm. Học pháp là rất tốt, là điều phải làm. Nhưng nếu học để nuôi bản ngã thì tri thức sẽ biến thành gánh nặng. Phật nói trong kinh Tăng chi, không phải biết nhiều giáo pháp mà thành sa môn. Thành sa môn khi tâm được điều phục. Một người thuộc lòng tam tạng nhưng chỉ một lời xúc phạm đã nổi sân. Người ấy chưa thật tu.
Thứ hai, tìm tu trong nghi lễ và hình thức mà bỏ quên tâm. Nhiều người lễ bái trang nghiêm, tụng niệm cả đời nhưng tâm vẫn đầy sợ hãi, hơn thua trách móc. Nghi lễ giúp định tâm nhưng không thay ta làm sạch tâm. Nếu tâm không đổi, mọi hình thức chỉ là lớp trang điểm tâm linh.
Thứ ba, tìm tu trong thần thông, huyền thuật, pháp môn kỳ dị. Đây là lối rẽ nguy hiểm nhất. khao khát thần lực nhanh, kết quả tức thời tu tác chính là cửa ngõ của tà đạo. Phật cảnh báo trong kinh Trung Bộ, “ta không tán thán thần thông biểu hiện, ta chỉ tán thán thần thông giáo hóa”. Thế nên thần thông không làm tâm sạch, tâm sạch mới là thần thông tối thượng.
Sự thật của tu hành đơn giản đến mức hiếm người tin. Vì sao? Vì tâm chúng sinh quen phức tạp, thấy cái gì đơn giản liền xem thường, thấy cái gì cao siêu huyền bí liền tôn thờ. Nhưng Phật pháp vốn đơn giản vì chân lý luôn đơn giản, phức tạp là do vọng tâm tạo ra. Và sự thật của chân lý là: Tu hành chính là làm sạch tâm. Chỉ vậy, nghe đơn giản, nhưng là toàn bộ con đường của 84.000 pháp môn.
Vì sao làm sạch tâm lại là trọng tâm của toàn bộ đạo Phật? Vì tâm là gốc của tất cả. Tâm tạo nghiệp, tâm quyết định luân hồi, tâm sinh thiên đường hay địa ngục, tâm tạo hạnh phúc hay khổ đau, tâm tạo ra cái tôi bám chặt muôn đời, tâm nhiễm vô minh, duyên nghiệp, tăng phiền não, tăng luân hồi sâu, tâm sạch duyên, trí tuệ mở, nghiệp mỏng, giải thoát gần.
Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy câu mở đầu của toàn bộ giáo pháp: “Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo tác”, nghĩa là cả vũ trụ nhân quả xoay theo tâm. Cho nên tu hành không bắt đầu từ bên ngoài mà từ nội tâm. Tu không phải thay đổi thế giới. Tu là thay đổi cái tâm đang nhìn thế giới. Lau tường nhà không ích gì nếu gương tâm vẫn bụi. Thuộc kinh cả đời mà một lời chạm tự ái đã nổi sân thì chưa bước vào cửa đạo. Tụng chú cả ngày nhưng khi mất của liền hoảng loạn, chứng tỏ chưa có định, chưa có trí.
Mọi pháp môn nếu không làm sạch tâm đều là ngoại đạo. Cao thâm hơn nữa, tu hành là trở về bản tánh, không phải trở thành ai khác. Chư vị nhớ rõ điều này. Tu không phải biến mình thành thánh nhân. Tu là dọn sạch những gì che lấp Phật tánh vốn có. Phật tánh không phải thứ đạt được, nó đã có sẵn, chỉ bị phủ bởi vô minh từ vô lượng kiếp. Cho nên tu hành là dọn sạch, làm trong, làm nhẹ, gỡ bỏ. Cho đến khi bản lai diện mục hiển lộ, khi gương tâm sạch hoàn toàn, ta sẽ thấy ta chưa từng ô nhiễm. ta vốn thanh tịnh như Phật. Cốt lõi của tu hành chỉ trong một câu. Sau khi trải qua nhiều pháp môn, nhiều kiếp sống, nhiều con đường, chư Phật gom lại chỉ còn một điều cứu cánh. Tu hành chính là làm sạch tâm bằng thiện hạnh, tỉnh thức, từ bi và vô ngã. Không có pháp nào vượt ngoài bốn điều ấy.
Vì sao tâm là gốc của tất cả? Tất cả pháp đều khởi từ tâm mà thành hình. Đức Phật không nói tâm là quan trọng, ngài nói tâm là gốc. Điều này không phải một ý niệm đạo đức, cũng không phải khẩu hiệu thiền môn. Đây là một định luật vận hành chủ đạo của vũ trụ sống. Tâm tạo ra trải nghiệm, tạo ra nghiệp, tạo ra thế giới, tạo ra toàn bộ chu kỳ luân hồi. Như năng lượng nền trong vật lý là biển rung động tạo ra hiện tượng. Tâm thức trong Phật pháp là nền rung động tạo ra mọi hiện tượng của sinh mệnh. Vậy nên tu hành không bắt đầu từ thân, cũng không bắt đầu từ hoàn cảnh mà từ tâm. Tâm chính là gốc của nghiệp. Toàn bộ luật nhân quả, mười nghiệp thiện ác, quả báo địa ngục, thiên đường đều xoay quanh một điểm.
Nghiệp bắt đầu từ ý, ý bắt đầu từ tâm, thân hành động, khẩu nói năng, tất cả chỉ là bề mặt của tảng băng, gốc thật nằm trong tâm khởi niệm. Chỉ cần một ý niệm sân hận mạnh, toàn bộ thân khẩu lập tức bị cuốn theo. Nhưng khi tâm hoàn toàn trong sáng, dù hoàn cảnh kích động đến đâu, khẩu nghiệp và thân nghiệp không thể trỗi.
Cho nên muốn đổi nghiệp hãy đổi tâm. Không đổi tâm, nghiệp mới liên tục sinh, nghiệp cũ không có đất để hóa giải. Đây là lý do Đức Phật không dạy sợ ác mà dạy quán tâm. Tâm là gốc của khổ và niết bàn. Bốn chân lý cao quý tức tứ diệu đế nếu nhìn từ góc sâu nhất. Khổ không nằm trong hoàn cảnh mà nằm trong cách tâm vận hành. Niết bàn không nằm ngoài thế gian mà là trạng thái tâm đã tắt mọi cấu nhiễm của lậu hoặc.
Điều này giải thích vì sao ở các tầng trời vẫn có khổ, trong địa ngục vẫn có chúng sinh khởi tâm từ khiến nghiệp nhẹ đi.
Khổ hay lạc do tâm chứ không do cảnh. Do đó những vị thoát tứ thiền bát định vẫn có phiền não. Nhưng những vị chỉ cần chuyển một niệm, liền chứng quả bởi vì những điều đó, mà tâm chính là gốc của thế giới mà ta đang sống.
Sâu xa trong kinh điển đã tiết lộ bí mật. Chúng ta không sống chung một thế giới, chúng ta chỉ sống chung một địa điểm. Còn thế giới mỗi người khác nhau. Thế giới của người tham họ luôn thiếu. Thế giới của người sân họ luôn có thứ đáng ghét. Thế giới của người si họ luôn hỗn loạn. Thế giới của người có trí mọi sự đều đúng lúc đúng duyên. Thế giới của bậc giác toàn là tánh không và lòng bi mẫn.
Do đó tâm cấu nhiễm thế giới cấu nhiễm, tâm trong sáng thế giới thanh tịnh. Vì vậy tu hành không nhằm sửa thế giới mà nhằm sửa thiết bị tạo thế giới. Chính là tâm thức trong ta. Tâm chính là gốc của luân hồi. Luân hồi không phải bánh xe vật lý nghiến nát sinh mạng mà là dòng tâm không dứt đang tái tạo chính nó. Điều làm chúng sinh tái sinh trong luân hồi không phải do nghiệp quá khứ mà là tâm đang tiếp tục bám chấp. Chấp thân tái sinh vào thân, chấp cảm tái sinh vào cảm, chấp tưởng trôi lăn theo vọng niệm, chấp ngã không thể thoát. Khi tâm dừng chấp, luân hồi dừng.
Cho nên luân hồi không ở ngoài mà đang vận hành trong từng sát na ý niệm. Điều thù thắng nhất là tâm chính là gốc của giác ngộ. Một điều kỳ diệu mà chúng ta phải hiểu sâu. Giác ngộ không phải cái gì đi từ ngoài vào. Giác ngộ là bản tánh của tâm.
Khi cấu nhiễm tan biến như gương không cần làm cho sáng. Chỉ cần lau bụi thì ánh sáng tự hiện. Khi tâm được rửa trọn vẹn, trí huệ tự hiện, từ bi tự khởi, an lạc tự đủ, thần thông tự vận hành như bóng theo hình, không cần cầu xin, không cần thêm gì, chỉ cần làm sạch. Tất cả các pháp môn thiền, mật, tịnh, luật, kinh; tất cả các truyền thống nguyên thủy, đại thừa, kim cương thừa; tất cả đều hướng về một điểm duy nhất tâm là gốc, là gốc của nghiệp, của khổ, của thế giới, của luân hồi và của giác ngộ. Ai nắm được gốc này, người đó đang đi đúng đường.
Các bậc thầy giác ngộ đương đại đã luận giải một cách rất khoa học, minh triết trên nền tảng Phật học. Vì sao tâm bị nhiễm? Nhiễm như thế nào và nhiễm ấy vận hành ra sao để sinh khổ và luân hồi? Họ đã triển khai đậm đặc, trí tuệ cực kỳ sâu. Sự hợp nhất hoàn mỹ giữa Phật giáo và khoa học. Họ kết luận tâm nhiễm ô không phải là lỗi của chúng sanh mà là cơ chế vận hành. Điều đầu tiên phải làm rõ, tâm nhiễm ô không phải sai lầm đạo đức. Tâm nhiễm ô là mô hình vận hành của tâm thức chưa giác, như nước đục không vì bản chất nước xấu mà chỉ vì có đất cát lẫn vào. Khi đất cát lắng xuống, nước lại trong. Cấu nhiễm là tính chất tạm thời.
Tính biết của giác là tính chất căn bản. Có ba thành phần cấu nhiễm tâm theo Phật pháp. Tâm bị cấu nhiễm qua ba tầng. Thứ nhất, vô minh nó là gốc rễ sâu nhất. Do không thấy được bản chất của pháp vô thường, vô ngã, duyên sinh, tánh không. Vô minh không phải không biết mà là biết sai, thấy giả thành thật.
Thứ hai, phiền não. Từ vô minh duyên sinh ra ba độc: Tham, muốn chiếm giữ cái không thể giữ. Sân, chống lại cái không thể chống, Si bám vào cái không có thật. Đây là năng lượng nhiễm.
Thứ ba, hành vi trong 12 nhân duyên. Vô minh duyên hành. Hành từ vô minh sẽ sanh nghiệp. Phiền não dẫn thân, khẩu, ý vận hành tạo nghiệp lưu thông, ghi vào a lại da thức.
Nghiệp chính là dữ liệu nhiễm. Ba thứ này vận hành thành vòng lặp tự tăng cường trong cách nhìn khoa học. Tâm bị nhiễm qua cơ chế não, trí nhớ, nhận thức. Khoa học thần kinh hiện đại nói gì? Bộ não có xu hướng ưu tiên tiêu cực. Não tiến hóa để sống sót, luôn phóng đại đe dọa, tức là não thích sân hơn vui. Điều này là bản đồ vật lý của sân và si. Thói quen tạo ra mạch thần kinh, một cảm xúc lặp lại đủ nhiều trở thành mạng thần kinh bền vững. Phật pháp gọi đây là chủng tử trong a lại da thức.
Tuy hai ngôn ngữ nhưng cùng nói về một sự thật. Não luôn dự đoán hơn là ghi nhận. Não không thấy thế giới như nó là, nó dự đoán 80 đến 90% cảnh giới rồi lấp vào chỗ trống. Đây chính là Si trong ngôn ngữ Phật học, tâm tạo ra thế giới trong đầu, rồi tin đó là thật.
Hệ liêm bích của não điều khiển phản ứng cảm xúc tức thời. Hệ liêm bích đặc biệt là hạch hạnh nhân, bắn tín hiệu trước ý thức. Ta nổi sân trước khi kịp suy nghĩ. Phật pháp gọi đây là tâm hành, tâm sở tự khởi. Hệ liêm bích của não bộ - chính chiếc cầu nối tuyệt đẹp giữa thần kinh học hiện đại và duy thức học. Hệ liêm bích không chỉ tương ứng với năm thức đầu mà còn liên hệ sâu với ý thức thứ sáu và mạt na - thức thứ bảy.
Các bậc thầy đương đại nói hệ liêm bích là gì trong duy thức học? Hệ liêm bích gồm hạch hạnh nhân, nơi xử lý sợ hãi, giận dữ, phản ứng bản năng. Vùng não ghi nhớ, vùng não điều hòa sinh lý, đói no, thất tình lục dục, stress, vùng não kết nối cảm xúc hành động, vùng não xử lý mùi hương cùng nhiều cấu trúc trung gian điều phối cảm xúc hành vi. Trong Phật họcv nó không chỉ tương ứng với năm thức đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Nó đại diện cho một tầng sâu hơn nơi cảm xúc vô thức, phản ứng bản năng và những tập khí được kích hoạt.
Nói đúng bản chất, hệ liêm bích thuộc về ba thức. Năm thức đầu liên quan mạnh đến dữ liệu giác quan, mùi cực mạnh, khởi niệm, khởi nhớ. Âm thanh, cảnh tượng kích hoạt cảm xúc theo tập khí, cảm giác cơ thể kích hoạt sợ hãi, tham ái. Nhưng năm thức chỉ tiếp nhận dữ liệu, chúng không tạo cảm xúc, chúng chỉ là cổng vào. Thức thứ sáu, ý thức. Hệ liêm bích liên hệ cực mạnh với thức thứ sáu vì, ý thức đặt tên, phân biệt, phán đoán cảm xúc vừa sinh, ý thức giải thích phản ứng của liêm bích khi đã xảy ra rồi. Ý thức tạo thành lớp câu chuyện lý do đúng sai, quanh một cảm xúc. Ví dụ như, hạch hạnh nhân bắn tín hiệu sợ, ý thức lập tức tạo ra tôi sợ gì. Cảm giác nóng trong ngực, ý thức suy diễn thành tôi bị xúc phạm. Nói cách khác, liêm bích sinh cảm xúc, ý thức dựng câu chuyện, và phiền não hình thành.
Thức thứ bảy mạt na thức. Đây mới là phần quan trọng. Mạt na thức có bốn chấp. Chấp ngã, chấp ngã sở, chấp ngã kiến, chấp thường kiến. Nó bám chặt vào A lại da và xem đó là ta. Hệ liêm bích tương ứng với một phần hoạt động của thức thứ bảy vì nó tạo ra xúc cảm bản ngã. Ta đang bị đe dọa, ta đang bị tấn công, nó kích hoạt bản năng sinh tồn tương đồng hoàn toàn với chấp ngã. Tất cả phản ứng này chính là thức thứ bảy tự vệ bản ngã. Khi liêm bích hoạt động mạnh, mạt na lập tức bám vào cảm xúc đó xem là cảm xúc của tôi. Do đó, liêm bích chính là vùng não của bản ngã bản năng tương quan với mạt na. Phản ứng giận dữ đột ngột chưa kịp suy nghĩ chính là liêm bích kết hợp mạt na hoạt động nhanh hơn ý thức a lại da thức.
Thức thức thứ tám. Trong hệ liêm bích, các ký ức cảm xúc được lưu bằng dấu ấn. Điều này liên hệ trực tiếp đến chủng tử, vùng não lưu trí nhớ liên quan đến chủng tử nghiệp tương ưng. Vùng não lưu cảm xúc của ký ức liên quan đến chủng tử phiền não. Liêm bích chính là mặt nổi thần kinh của các chủng tử cảm xúc. Các tập khí sân, ái, trợ, nghi đều có mặt thần kinh tương ứng. Những điều này chỉ ra rằng hệ liêm bích của não bộ chính là cửa ngõ mà chủng tử nghiệp trong A lại da bước ra thành cảm xúc. Nó phản ánh cửa ngõ của chủng tử A lại da khi trồi lên. Nó là nơi phiền não được kích hoạt khi chủng tử gặp duyên.
Điều này dẫn đến một sự thật. Khoa học nhìn liêm bích là não cảm xúc, duy thức xem đó là chỗ khởi của phiền não. Năng lượng thanh tịnh từ công đức, phước đức, thiền quán vô ngã chính là làm yếu hoạt động của mạt na và liêm bích. Khi năng lượng thanh tịnh trong tâm mạnh, hoạt động vùng gây hại giảm, hoạt động dùng ích lợi tăng, tâm bớt chấp ngã, bớt phản ứng, bớt phiền não. Đây là sự gặp nhau hoàn mỹ của khoa học và Phật học.
Trong 12 nhân duyên của đạo Phật, tâm bị nhiễm qua cơ chế xúc thủ hữu. Đây là cơ chế cốt lõi nhất. Xúc tức là cảnh gặp tâm, tâm ghi nhận. Trong 12 nhân duyên nó là xúc duyên thọ; thủ, tức là tâm không chỉ ghi nhận, tâm bám hoặc ghét cái được ghi nhận. Trong 12 duyên nó ái duyên thủ; hữu tức là cảm xúc ấy được lặp lại trở thành chủng tử. Trong 12 duyên nó là hữu duyên sinh. Tâm nhiễm là vậy. Tiếp xúc bám lặp trở thành chính mình. Cái gì ta lặp lại đủ nhiều, ta trở thành nó, khổ sẽ sinh. Vì sao cấu nhiễm tạo ra khổ? Đứng ở bình diện khoa học, khi não bám một điều, hệ thần kinh kích hoạt stress. Khi stress duy trì, nó phá hệ miễn dịch. Khi ý niệm lập mạng thần kinh bó cứng, ta mất tự do. Đứng ở bình diện Phật học, bám vào cái vô thường, tất nhiên khổ, chấp cái vô ngã thành ta tất nhiên khổ. Tưởng cái duyên sinh là thật tất nhiên khổ. Tựu chung lại, khổ sinh không phải vì có chuyện xấu, khổ sinh vì tâm dính vào chuyện ấy. Tính chất tàn khốc khó thoát khỏi vô minh nhất chính là tâm tự củng cố nhiễm, giống như hệ phản hồi tăng. Ta giận, não tạo mạch giận, ta dễ giận hơn. Ta tham, não tạo mạch tham, ta tham hơn. Ta sợ, não tạo mạch sợ ta sợ dễ hơn. Đây là vô minh hành thức danh sắc tái lập liên tục.
Tâm nhiễm ô càng nhiễm mạnh càng tự tăng tốc. Đây chính là dòng xoáy luân hồi vi tế mà Đức Phật thấy trong đêm thành đạo. Nhưng tâm nhiễm không phải lỗi mà là cơ hội giải thoát. Các bậc Giác ngộ đã nhìn ra. Nếu tâm có thể nhiễm, nó cũng có thể tịnh. Khoa học đã chứng minh hệ thần kinh có khả năng thay đổi. A lại da thức có khả năng chuyển y, chuyển nền tảng, thay đổi mức trường năng lượng nền. Cái vòng lặp nhiễm, lặp khổ cũng chính là dòng lặp tịnh, lặp giải thoát. Tu hành không phải sửa cái gì xấu, mà là dừng nuôi cấu nhiễm, kích hoạt chủng tử thanh tịnh.
Tâm nhiễm có ba gốc vô minh, phiền não, nghiệp. Tâm nhiễm vận hành qua cơ chế: xúc thọ ái thủ hữu, vòng lặp tạo ra khổ và tạo ra toàn bộ hệ thống luân hồi. Nhưng chính có thể nhiễm chứng minh nó có thể tịnh. Nếu chư vị hiểu rõ cơ chế này cũng giống như thấu hiểu 12 nhân duyên, thì từ đây mọi pháp môn đều trở nên trong suốt.
Thưa chư vị, sau khi biết tu hành là làm sạch tâm và biết tâm là gốc của tất cả và hiểu cơ chế cấu nhiễm của tâm. Nhưng tất cả chỉ mới là nhìn từ bên ngoài. Điều quan trọng nhất, tinh yếu nhất, tối hậu nhất của con đường giải thoát chính là, Phật dạy chúng ta làm sạch tâm bằng cách nào?. Nếu không nắm được điều này, dù học vô số kinh điển cũng chỉ là đứng ngoài cổng. Nhưng khi hiểu rõ điều này, chư vị sẽ thấu suốt Đạo đế, hiểu bản chất của Tam vô lậu học, thấm những pháp môn thiền định, trì chú, quán chiếu và biết cách vận hành chúng đúng như pháp.
Bởi vì tu hành không phải là tích lũy nhiều phương pháp, mà là đi đúng vào cơ chế khiến tâm được giải độc. Đó chính là Giới đóng các cánh cửa tạo nghiệp mới, Định lắng sâu các làn sóng vọng tưởng, Tuệ soi thấu vô ngã, thấy các pháp như chúng đang là, Bồ đề tâm mở trái tim, thanh lọc nghiệp cũ bằng từ bi và công đức. Khi các yếu tố này vận hành đồng bộ, tâm sẽ từ nhiễm thành sạch, từ loạn thành định, từ đục thành sáng và rồi năng lượng của Phật tánh vốn vẫn luôn hiện hữu sẽ tự biểu hiện thành trí tuệ. Không phải trí hữu lậu do học mà có, mà là tuệ vô lậu tự sinh ra từ một tâm đã lặng và trong.
Cho nên nắm được cơ chế làm sạch tâm chính là hiểu trọn đạo đế. Đó là con đường mà chư Phật đã đi, là phương pháp mà chư tổ đã hành và là chìa khóa duy nhất mở cửa giải thoát của muôn kiếp sinh tử. Hiểu được điều này, chư vị sẽ thấy rõ vì sao đạo Phật nói ý dẫn đầu các pháp, vì sao phiền não có thể diệt, vì sao nghiệp có thể chuyển, vì sao trí tuệ có thể sinh? Và vì sao một người phàm có thể thành Thánh?
Tu hành không phải ngẫu nhiên, không phải dựa vào may mắn mà dựa vào pháp vận hành của chính tâm. Trong kinh Tương Ưng, Phật tuyên bố ta chỉ dạy khổ và con đường diệt khổ. Con đường ấy chính là Tam vô lậu học, Giới, Định, Tuệ. Nhưng nếu chỉ có Giới, Định, Tuệ mà nghiệp chưa đoạn tận, không thể thành A la hán. Để tâm thật sự sạch tận nguồn, Phật dạy bồ đề tâm tức hướng tâm về lợi ích của tất cả hữu tình. Khi kết hợp lại, ta có định luật làm sạch tâm hoàn chỉnh nhất với ngăn tạo nghiệp mới, định làm lắng dòng tâm. Tuệ phá vô minh, bồ đề tâm thanh lọc nghiệp cũ qua phước công đức. Đây là bốn trụ cột của một đời tu giải thoát.
Vì sao phải kết hợp tam vô lậu học với bồ đề tâm? Giới không đủ nếu không có bồ đề tâm. Giới chỉ ngăn tạo thêm nghiệp mới nhưng không thể tự làm tan nghiệp cũ. Phật dạy trong Tăng Chi: ý nghiệp là quan trọng nhất. Ý tịnh thì nghiệp tịnh. Nhưng muốn cho ý được tịnh không phải chỉ ngồi yên hay cố đè nén vọng niệm. Ý chỉ thật sự tịnh khi chấm dứt được sự vọng động của các dòng nhân quả đang chuyển lưu trong a lại da thức, những dòng năng lượng nghiệp mà ta còn đang mang nợ từ vô số đời. Theo duy thức, mỗi hành động, lời nói, ý nghĩ để lại một chủng tử nghiệp trong tàng thức. Những chủng tử bất thiện này không biến mất theo thời gian. Chúng chờ đủ duyên để trổ quả thành đau khổ, xung đột, mất mát, bệnh tật, phiền não hoặc những hoàn cảnh bất toại nguyện.
Về mặt khoa học hiện đại, điều này tương ứng với cơ chế vận hành của não bộ. Các ký ức cảm xúc mạnh, đặc biệt là ký ức tiêu cực được mã hóa sâu trong hệ liêm bích, tạo ra những chu kỳ phản ứng vô thức khi có kích thích, não lập tức phản ứng theo thói quen cũ, giống hệt chủng tử trổ quả theo duyên. Cho nên muốn tâm tịnh, trước hết phải chuyển hóa được những chủng tử bất thiện đang trỗi dậy. Nhưng chủng tử không biến mất chỉ vì ta giữ giới, ngồi thiền, hoặc cầu nguyện, nếu mà không đủ duyên. Chúng chính là cơ chế vận hành nhân quả công bằng tối cao của pháp giới, không ai can thiệp được. Nó chính là năng lượng bất thiện do chính ta tạo ra.
Một là ta đón nhận lại dòng năng lượng ấy, hai là chuyển hóa nó bằng dòng năng lượng thiện lành tương ưng. Không có cách khác, chúng chỉ thực sự mất đi khi, chúng đã trổ quả hoàn toàn và được ta tiếp nhận bằng chánh niệm, không tạo nghiệp mới.
Đây là cơ chế quả báo cháy hết, giống như một mũi tên đã bắn ra phải rơi xuống thì mới hết tác dụng. hoặc khi chúng được hòa tan bởi năng lượng phước đức và công đức, tức là năng lượng thiện lành đủ mạnh để các chủng tử bất thiện hấp thụ và trung hòa tần số nghiệp cũ, duy thức gọi đây là dị thục chuyển biến. Phước đức và công đức chính là trường năng lượng mới mà ta tạo ra để hấp thụ và chuyển hóa những chủng tử cũ.
Khi ta hồi hướng phước đức công đức đến khổ chủ, tức là những chúng sinh mà ta từng làm hại, trường nhân quả đạt trạng thái cân bằng năng lượng nên chủng tử nghiệp tự động tan biến trong tàng thức. Đây không phải huyền bí, đó là luật bảo toàn nhân quả của pháp giới. Khi nhân quả không còn sai lệch, khi dòng năng lượng thiện lấp đầy và bù đắp cho sai số nghiệp, tâm liền trở nên nhẹ sáng, không còn bị nghiệp kéo xoay theo phản ứng vô thức nữa.
Đó chính là ý tịnh, đó chính là tâm vô lậu, phước đức và công đức. Các dòng năng lượng này chỉ đến từ hành thiện, bố thí, nhẫn nhục, lợi tha, tức là hạnh bồ tát. Nếu không có năng lượng lợi tha, tâm không sáng. Định sẽ không đạt nếu tâm còn ích kỷ. Thiền định mà không có tâm lợi sinh thì dễ rơi vào không, rơi vào vô biên xứ, rơi vào việc thọ tưởng và lạc vào thiền ngoại đạo.
Phật dạy trong kinh định mà không có tuệ là vô minh ẩn kín. Chỉ khi tâm nhuốm từ bi, định mới thành chánh định. Tuệ sẽ không đủ nếu không có công đức. Tuệ là ánh sáng, nhưng ánh sáng cần năng lượng, năng lượng ấy chính là công đức. Công đức đến từ giữ giới, thiền quán vô ngã, chuyển hóa chấp ngã, hành bồ đề tâm. Trong Duy thức, a lại da thức chỉ rỗng sáng khi, chủng tử bất thiện giảm, chủng tử thiện và vô lậu tăng mạnh, mà điều làm tăng mạnh nhất chính là hạnh lợi tha và trí vô ngã. Bồ đề tâm chính là chất xúc tác làm sạch tâm nhanh nhất. Bồ đề tâm đánh trực tiếp vào gốc của nhiễm ô chấp ngã. Khi ta làm vì mình, tham sân si tăng, khi ta làm vì tất cả hữu tình, ngã chấp tự rơi. Trong kinh Đại Bát Nhã, Bồ Đề tâm sinh, tất cả pháp lành sinh.
Bồ đề tâm không chỉ là đạo đức mà là cơ chế vật lý tâm linh làm tan nghiệp. Vì lợi tha công đức sinh công đức làm sạch A lại da. A lại da sạch vô minh tan, vô minh tan trí tuệ hiện, trí tuệ hiện giải thoát. Cho nên giới, định, tuệ, bồ đề tâm chính là bốn tầng làm sạch tâm.
Tầng thứ nhất, giới ngăn tạo chủng tử nghiệp mới. Giới không phải ràng buộc mà là bức tường bảo vệ a lại da khỏi bị ném thêm rác nghiệp. Trong kinh Pháp Cú, ý dẫn đầu các pháp, nếu với ý ô nhiễm mà nói hay làm, khổ não sẽ theo ta như xe lăn theo chân bò. Do đó giới không phải quy tắc đạo đức mà là hệ thống chặn nghiệp mới, chặn không cho thức thứ sáu tạo ra dòng niệm sai. Không sát chặn sân, không trộm chặn tham, không tà dâm chặn si mê bản năng, không vọng ngữ chặn mầm kiêu mạn, không uống rượu chặn loạn tâm và thất niệm. Giới là bước đầu của làm sạch tâm. Vì tâm không thể sạch nếu mỗi ngày vẫn gieo rác mới vào A lại da với giống như đóng van nước dơ, không đóng van thì lau hoài cũng dơ lại.
Tầng thứ hai định làm lắng dịu dòng tâm. Khi giới giữ trọn và bồ đề tâm mạnh, tâm tự nhiên lắng định không phải ép tâm vào im lặng mà là không chạy theo niệm, không chống lại niệm, chỉ thấy rõ niệm. Định không dùng để trốn đời, định để thấy rõ động lực vi tế của tâm như nước đang đục, không thể soi bóng, định làm bùn lắng xuống, để tuệ có thể chiếu vào. Trong duy thức, định khiến mạt na thức chấp ngã tạm thời yếu đi. Vì mạt na không thể chấp cái tâm đang rộng sáng. Lúc ấy thân thọ tâm pháp được thấy đúng bản chất. Định là môi trường để tuệ sinh. Không định không thấy sự thật. Không tuệ định chỉ là trạng thái tâm lý.
Tầng thứ ba, tuệ ánh sáng phá vô minh. Tuệ không phải kiến thức. Tuệ là thấy được bản chất của tâm và pháp. Trong kinh Bát Nhã, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Không có pháp nào có tự ngã nên không có cái tôi để nắm giữ. Khi định lắng tuệ chiếu, khi tuệ chiếu ta thấy ngũ uẩn vô thường, ngã là giả lập, cảm xúc chỉ là sóng não, nghiệp chỉ là chủng tử, niệm chỉ là niệm, khổ chỉ là sự vận hành của duyên, không có người bị khổ, không có cái tôi tạo nghiệp. Tất cả pháp duyên sinh vô tự tánh. Tánh không được thấy rõ trong từng niệm. Trong Bát Nhã nó là chiếu kiến ngũ uẩn giai không, tuệ là năng lực thiêu rụi vô minh. Lúc đó gốc vô minh lung lay, chiếc rễ độc của luân hồi nứt ra!
Tầng thứ tư, hành bồ đề tâm chính là con đường thanh lọc nghiệp cũ. Vì sao chỉ bồ đề tâm mới làm sạch nghiệp cũ? Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy bồ đề tâm là gốc của mọi thiện căn, là hạt giống thành Phật của tất cả chư Phật trong ba đời. Tức là bất kỳ hành động nào được làm bằng bồ đề tâm đều có lực thanh tịnh hoá mạnh gấp bội. Vì sao? Vì bồ đề tâm là rung động trái ngược hoàn toàn với vô minh. Vô minh là tâm co rút về tôi. Bồ đề tâm là tâm mở ra vì người. Hai lực này đối nghịch. Khi bồ đề tâm tăng, vô minh tự yếu. Nghiệp sinh từ cái tôi, chỉ có tâm vì người mới hóa tan nghiệp. Trong Duy thức nghiệp cũ nằm trong a lại da như chủng tử. Những chủng tử này không thể bị thiêu rụi chỉ bằng thiền định. Chúng chỉ tan khi có phước đức lớn rửa nghiệp, công đức lớn chuyển nghiệp, phước đức đến từ thiện hạnh, công đức đến từ quán vô ngã, hành lợi tha và giúp người tăng trí huệ bỏ ác hành thiện. Do đó không hành bồ đề tâm, tâm không sạch hoàn toàn.
Bồ đề tâm tạo công đức thế nào? Bồ đề tâm chính là tâm vì lợi ích của tất cả hữu tình, không vì cái ngã này. Khi tâm hướng ra ngoài, cái tôi tự động co lại. Cái tôi co lại, mạt na yếu, chủng tử vô minh không còn điểm bám. A lại da sáng dần, đó là theo duy thức, còn theo tánh không, khi không chấp ta, công đức tăng theo cấp số nhân. Vì năng lượng không còn bị giới hạn bởi ngã tưởng, tâm vô ngã rung đúng tần số pháp giới. Pháp giới vận hành theo từ bi, bình đẳng, vô ngã, duyên sinh, khi tâm của hành giả hòa tần số với pháp giới, họ nhận được luật gia trì, sự hộ niệm, sự tăng trưởng định, sự khai mở tuệ. định tuệ tăng trong cùng một tiến trình.
Thế nên kết hợp tam vô lậu học và bồ đề tâm thành con đường duy nhất để làm sạch tâm. Chư vị sẽ thấy toàn bộ tiến trình tu sạch tâm như sau: Giới ngăn nhiễm ô mới, hành thiện rửa bụi thô nghiệp cũ phước đức. Thiền định lắng dòng tâm mở cửa cho tuệ sinh. Tuệ thiêu rụi vô minh, phá chấp ngã. Hành bồ đề tâm tạo công đức, chuyển hóa a lại da sạch tận gốc. Khi bốn lực này hội đủ, tâm trở nên nhẹ, sáng, rỗng, tự do, vô ngã, thanh tịnh. Và lúc ấy như kinh dạy, tự nhiên giải thoát!
